Bổ sung luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách phát triển

Chiều 29/9, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo “Nghiên cứu, quán triệt và triển khai một số vấn đề lý luận quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng”.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Tạ Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (ảnh tư liệu).
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Tạ Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (ảnh tư liệu).

Làm rõ những vấn đề lý luận cốt lõi, định hướng phát triển đất nước

Phát biểu khai mạc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Minh Tuấn, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc chính trị quan trọng diễn ra sau 40 năm đổi mới, xác định các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; nâng cao vị thế đất nước.

Từ yêu cầu nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện Văn kiện Đại hội XIV, cần tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận cốt lõi, trước hết là nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó là tư duy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, gắn với yêu cầu phát huy tính tự chủ, tự lực, tự cường và nâng cao năng lực nội sinh. Những vấn đề này cần được nghiên cứu trong mối quan hệ với các biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới.

Về mô hình tăng trưởng mới và các động lực phát triển, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Minh Tuấn cho rằng, cần làm rõ vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nguồn nhân lực và những yếu tố mới của lực lượng sản xuất. Việc phát huy vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu, làm rõ trong quá trình hoàn thiện mô hình phát triển.

Bên cạnh đó, văn hóa, con người và đại đoàn kết toàn dân tộc là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò trong quá trình phát triển đất nước. Đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị, cần nghiên cứu, làm rõ các vấn đề về tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Minh Tuấn đề cập yêu cầu nghiên cứu các vấn đề quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế; làm rõ mối quan hệ giữa phát triển với bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế đất nước. Đồng thời, nhấn mạnh vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn và hoạch định chính sách

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Văn kiện Đại hội XIV vừa kế thừa nền tảng tư tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và những thành tựu lý luận của công cuộc đổi mới vừa bổ sung những nhận thức mới có tính chiến lược về mô hình phát triển, tự chủ chiến lược, lực lượng sản xuất mới, thể chế phát triển, văn hóa và con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế và xây dựng Đảng.

Những phát triển mới trong tư duy lý luận đặt ra yêu cầu đối với khoa học xã hội và nhân văn phải chuyển mạnh từ nghiên cứu, giải thích những vấn đề đã diễn ra sang chủ động phát hiện vấn đề, tổng kết thực tiễn, dự báo và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Hoàng đề xuất tăng cường nghiên cứu dựa trên bằng chứng, tiếp cận liên ngành, đánh giá tác động chính sách; đồng thời xác định rõ điều kiện thực hiện, rủi ro và các phương án lựa chọn. Những vấn đề chiến lược cần được chuyển thành câu hỏi nghiên cứu cụ thể, gắn với sản phẩm nghiên cứu có địa chỉ sử dụng rõ ràng.

Đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cần tăng cường nghiên cứu về tự chủ chiến lược, mô hình tăng trưởng mới, hội nhập quốc tế, an ninh phi truyền thống và nâng cao vị thế đất nước; đồng thời đổi mới sản phẩm nghiên cứu theo hướng tăng cường các báo cáo chiến lược, báo cáo chính sách, dự báo và sản phẩm phục vụ trực tiếp yêu cầu thực tiễn.

Tiến sĩ Nguyễn Như Trang, Chi bộ Viện Xã hội học và Tâm lý học đề cập một số định hướng nghiên cứu về xã hội học và tâm lý học trong Văn kiện Đại hội XIV và các nghị quyết quan trọng của Đảng, gắn với những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và thay đổi cơ cấu xã hội. Các hướng nghiên cứu gồm quản lý và quản trị xã hội; văn hóa và con người; giáo dục; chính sách xã hội và an sinh xã hội; an ninh, an toàn và an dân; biến đổi khí hậu và môi trường.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Như Trang, chuyển đổi số đặt ra những vấn đề mới về việc làm, đời sống và tiêu dùng trên môi trường số; quản trị xã hội dựa trên dữ liệu và công nghệ; quan hệ giữa Nhà nước và người dân; khả năng tiếp cận dịch vụ công và mức độ tham gia của các nhóm xã hội trong môi trường số.

Đối với trí tuệ nhân tạo, cần quan tâm đến tác động đối với nhận thức, quan hệ xã hội, đạo đức và quyền con người cũng như khả năng thích ứng tâm lý, sức khỏe tinh thần và các mối quan hệ xã hội. Cùng với đó là những vấn đề về văn hóa, giá trị và hạnh phúc; giáo dục và giáo dục số; sức khỏe và bất bình đẳng; dân số, di cư và già hóa dân số; an sinh xã hội và các nhóm dễ bị tổn thương; phát triển đô thị, nông thôn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tiến sĩ Nguyễn Như Trang cho rằng cần chú trọng nghiên cứu những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi số và biến đổi xã hội, trong đó có tác động của trí tuệ nhân tạo đến con người và các mối quan hệ xã hội; khả năng thích ứng của cộng đồng trước biến đổi khí hậu, già hóa dân số; những thay đổi trong việc làm và các vấn đề an sinh xã hội.

Các đại biểu cũng cho rằng, nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ nằm ở kinh tế mà còn ở tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh nghiệm quản lý và khả năng kết nối Việt Nam với các nước.

Việc nghiên cứu, quán triệt và triển khai Văn kiện Đại hội XIV cần gắn chặt với tổng kết thực tiễn, tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận mới, cụ thể hóa thành các nhiệm vụ nghiên cứu phù hợp; đồng thời chú trọng nâng cao năng lực dự báo, tăng cường nghiên cứu liên ngành và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách trong giai đoạn phát triển mới.

Bài và ảnh: Lý Thanh Hương/TTXVN

Dành cho bạn

Chế độ, chính sách đối với luật sư công.

Chế độ, chính sách đối với luật sư công

Nghị định số 364/2026/NĐ- CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công, có hiệu lực từ 1/10/2026.

Để phản biện xã hội thực sự góp phần hoàn thiện chính sách

Để phản biện xã hội thực sự góp phần hoàn thiện chính sách

Từ đầu năm 2026 đến nay, Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức phản biện xã hội đối với 96 dự thảo, 491 ý kiến, kiến nghị; trong đó, 54,8% ý kiến được tiếp thu, 45,2% được cơ quan có thẩm quyền giải trình, làm rõ. Kết quả này cho thấy hoạt động phản biện xã hội đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để các ý kiến ngày càng sát thực tế, có căn cứ và thuyết phục hơn; đồng thời theo dõi được việc tiếp thu sau phản biện.

Thúc đẩy cơ chế 'luồng xanh', rút ngắn thời gian xử lý

Thúc đẩy cơ chế 'luồng xanh', rút ngắn thời gian xử lý

Tỉnh Quảng Trị tiếp tục rà soát, đơn giản hóa những thủ tục hành chính có nhiều hồ sơ, vướng mắc, nhằm giảm thời gian, giấy tờ và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đến nay, tỉnh đã cải cách 59 thủ tục hành chính, trong đó bãi bỏ 1 thủ tục, cắt giảm thành phần hồ sơ của 5 thủ tục và rút ngắn bình quân khoảng 30% thời gian giải quyết đối với 53 thủ tục còn lại. Qua đó, chi phí tuân thủ giảm khoảng 20-35%.

Biến quyền tự chủ thành động lực phát triển mới cho TP Hồ Chí Minh

Biến quyền tự chủ thành động lực phát triển mới cho TP Hồ Chí Minh

Với khung thể chế ổn định và quyền tự chủ rộng hơn, Luật Phát triển đô thị kỳ vọng giúp TP Hồ Chí Minh tháo gỡ điểm nghẽn, huy động nguồn lực và hình thành mô hình kinh tế mới. Yêu cầu đặt ra là phân quyền phải gắn trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và kết quả thực chất.