Văn bản quan trọng này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị thực hiện, tổ chức dịch vụ khuyến công, đối tượng thụ hưởng và mọi cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động khuyến công trên phạm vi cả nước.
Điểm nhấn mang tính bước ngoặt của Thông tư lần này là việc chuyển đổi số toàn diện công tác quản lý nhà nước thông qua Hệ thống thông tin quản lý khuyến công. Toàn bộ quy trình từ khâu lập đề xuất, đánh giá, xét chọn, giao kế hoạch, triển khai thực hiện, tạm ứng, thanh toán cho đến tổng hợp dữ liệu và báo cáo thống kê đều được số hóa tập trung do Cục Công nghiệp trực tiếp quản lý và vận hành. Điều này không chỉ giúp minh bạch hóa thông tin mà còn giảm thiểu tối đa thủ tục giấy tờ, cho phép các đơn vị cập nhật và khai thác dữ liệu trực tuyến thuận lợi.
Nhằm nâng cao chất lượng xét duyệt và khắc phục tình trạng chồng chéo, Thông tư phân định rất rạch ròi trách nhiệm đánh giá giữa cấp cơ sở và cấp Bộ. Cụ thể, ở cấp cơ sở, Sở Công Thương chịu trách nhiệm tổ chức đánh giá tính hợp pháp, sự phù hợp về đối tượng, địa bàn, ngành nghề, mức hỗ trợ, tính khả thi và hiệu quả thực tế của đề án tại địa phương.
Trong khi đó, ở cấp Bộ, Cục Công nghiệp tập trung đánh giá tính liên vùng, liên tỉnh, mức độ ưu tiên, khả năng cân đối kinh phí trong tổng thể kế hoạch chung mà không tiến hành đánh giá lại các nội dung thuộc thẩm quyền của cấp cơ sở, trừ những trường hợp đặc biệt cần kiểm tra, xác minh.
Về nguyên tắc và tiêu chí xây dựng đề án, văn bản yêu cầu mọi kế hoạch phải bám sát chủ trương phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà nước, quy hoạch quốc gia, vùng, tỉnh, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Các đề án được khuyến khích gắn kết chặt chẽ với sản phẩm, nhóm sản phẩm và chuỗi ngành hàng có tiềm năng, lợi thế của địa phương hoặc quốc gia nhằm thúc đẩy liên kết sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, đối với các đề án hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, Thông tư đặt ra tiêu chuẩn khắt khe: Máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ phải chưa qua sử dụng, mới 100%, có đầy đủ hồ sơ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, đồng thời ưu tiên các hệ thống có khả năng tự động hóa, số hóa, kết nối dữ liệu và giảm phát thải bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, văn bản cũng quy định rõ các yêu cầu kỹ thuật riêng cho từng loại hình đề án đặc thù như mô hình trình diễn kỹ thuật (yêu cầu công nghệ phải vượt trội hơn về năng suất, tiết kiệm năng lượng và chưa có cơ sở nào áp dụng trên địa bàn cấp xã), mô hình cơ sở công nghiệp nông thôn hoạt động hiệu quả để nhân rộng, hay các mô hình sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Về tiến độ thời gian hằng năm, các đơn vị phải hoàn thành việc tổng hợp danh mục đề án đề xuất kế hoạch trước ngày 1 tháng 6, và hoàn tất công tác đánh giá cấp Bộ trước ngày 15 tháng 10. Thêm vào đó, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án cũng được phân cấp rõ ràng giữa sở công thương, Cục Công nghiệp và Bộ Công Thương tùy theo tính chất thay đổi về địa điểm, thông số kỹ thuật hay quy mô kinh phí.
Về quản lý tài chính, Thông tư hướng dẫn chi tiết quy trình tạm ứng, thanh toán và quyết toán kinh phí từ ngân sách nhà nước. Đối với các đề án thực hiện trong một năm ngân sách, sau khi hợp đồng có hiệu lực, đơn vị thực hiện được tạm ứng tối đa 50% kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Văn bản đi kèm hệ thống 8 biểu mẫu chi tiết (từ dự toán kinh phí, danh mục đề án, đề nghị tạm ứng/thanh toán, phiếu đánh giá, biên bản nghiệm thu đến bảng chi tiết quyết toán và đối chiếu kinh phí) cùng danh mục 17 nhóm tài liệu hướng dẫn cụ thể cho từng dạng đề án khác nhau.
Nhờ đó, các cơ quan chuyên môn, đơn vị thực hiện và Kho bạc Nhà nước có hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch để dễ dàng triển khai, nghiệm thu, kiểm soát và hoàn tất thủ tục quyết toán nguồn vốn khuyến công quốc gia hiệu quả.