Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên (mật danh là Miền, B2) là Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi là Bộ Chỉ huy Miền). Vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, Bộ Chỉ huy Miền đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đánh bại đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Ra đời là tất yếu khách quan
Trong bối cảnh đế quốc Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định Genève, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập thể chế chính trị thân Mỹ, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới, xây dựng bộ máy bạo lực phản cách mạng và sử dụng bộ máy ấy để đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng miền Nam, Đảng ta không còn con đường nào khác phải sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp kẻ thù, thực hiện hoài bão lớn nhất của toàn dân tộc là hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Từ phong trào cách mạng của quần chúng, hình thức đấu tranh vũ trang tái xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của các lực lượng vũ trang nhân dân ở miền Nam. Nhu cầu cần có một bộ chỉ huy quân sự thống nhất và tại chỗ để kịp thời chỉ đạo chỉ huy toàn thể các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường miền Nam đặt ra một cách khẩn bách. Sự ra đời của Bộ Chỉ huy Miền là một tất yếu khách quan, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng miền Nam trong thời điểm chuyển sang chiến tranh cách mạng lúc bấy giờ. Đó là vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh vũ trang chống xâm lược.
Bộ Chỉ huy Miền là một cấp chỉ huy lớn của quân đội, cơ quan chỉ huy cao nhất các lực lượng vũ trang nhân dân ở B2. Bộ Chỉ huy Miền đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, trực tiếp là Trung ương Cục và sự chỉ đạo chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh”. Kể từ khi thành lập cho đến lúc kết thúc nhiệm vụ, Bộ Chỉ huy Miền do các đồng chí sau đây làm Tư lệnh: Phạm Thái Bường (1961), Trần Nam Trung (1961 - 1962), Trần Văn Quang (1962 - 1964), Trần Văn Trà (1964 - 1967, 1973 - 1976), Hoàng Văn Thái (1967 - 1973); và Chính ủy là các đồng chí: Nguyễn Văn Linh (1961 - 1964), Nguyễn Chí Thanh (1964 - 1967), Phạm Hùng (1967 - 1976).
Hoàn thành tốt nhiệm vụ
Sau thất bại của chính sách “tố cộng - diệt cộng”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải thay đổi chiến lược, thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, lấy gom dân lập ấp chiến lược làm quốc sách, tập trung bình định miền Nam. Quán triệt sâu sắc nghị quyết Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ III, nghị quyết của Trung ương Cục về nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới, Ban Quân sự Trung ương Cục, sau đó là Bộ Chỉ huy Miền đã vừa làm tham mưu cho Trung ương Cục, vừa trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy khôi phục lại hệ thống tổ chức quân sự từ Miền xuống đến các quân khu, tỉnh, huyện, xã, thiết lập hệ thống chỉ huy quân sự thông suốt trên toàn chiến trường B2. Đồng thời, tiếp tục thực hiện khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa và tổ chức lại chiến trường, đẩy mạnh chiến tranh du kích hỗ trợ cho cao trào phá ấp chiến lược và chống bình định nông thôn, đẩy mạnh hoạt động tác chiến tập trung của lực lượng chủ lực, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.
“Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mỹ buộc phải chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh của Mỹ vào miền Nam hòng dùng sức mạnh quân sự đánh bại ta trong thời gian ngắn. Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, nắm vững tình hình chiến trường, Bộ Chỉ huy Miền trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy tiếp tục giữ vững thế tiến công địch, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, bố trí lại chiến trường, xác định quyết tâm và cách đánh thắng quân viễn chinh Mỹ, tiến hành hàng loạt chiến dịch lớn, lần lượt đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của địch, thực hành tiến công trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Mỹ buộc phải thực hiện “phi Mỹ hóa” và chấp nhận ngồi vào đàm phán tại Hội nghị bốn bên ở Pari, trên chiến trường đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đẩy mạnh đánh phá bình định trên chiến trường miền Nam, mở rộng chiến tranh sang Campuchia và tăng cường chiến tranh ở Lào. Tiên đoán được âm mưu của địch, Bộ Chỉ huy Miền, chỉ đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang liên tục tiến công và phản công địch, đấu tranh quyết liệt trên chiến trường nông thôn đồng bằng, đánh bại cuộc tiến công của địch ra biên giới Campuchia, mở rộng vùng giải phóng ven biên giới, thực hành thắng lợi cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường trọng điểm Đông Nam Bộ, góp phần làm phá sản một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.
Buộc phải ngồi vào bàn ký kết Hiệp định Pari về Việt Nam, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ra sức phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh bình định lấn chiếm một cách quyết liệt, uy hiếp, sẵn sàng gây lại chiến tranh lớn. Nhận thức chính xác âm mưu và hành động ngoan cố phá hoại Hiệp định của địch, Bộ Chỉ huy Miền đã kịp thời chỉ đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang tích cực đánh địch lấn chiếm giành đất giành dân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, mở rộng hành lang vận tải và giao thông liên lạc nối liền với Trung ương. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy Miền đã vừa làm tham mưu cho Trung ương Cục vừa khẩn trương chỉ đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân tổ chức hàng loạt trận đánh, chiến dịch, hỗ trợ nhân dân địa phương thực hiện tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã; đồng thời tích cực chuẩn bị chiến trường, bảo đảm hậu cần kỹ thuật và thông tin liên lạc, chia cắt và chiếm giữ các trục đường, các đầu cầu; phối hợp nhịp nhàng với các binh đoàn của Bộ đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố Sài Gòn, giải phóng Sài Gòn trong tình trạng gần như nguyên vẹn; nhanh chóng đánh chiếm các thành phố thị xã còn lại trên toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long và các đảo, cùng nhân dân nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Miền Nam giải phóng, Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang tiếp quản vùng mới giải phóng, đặc biệt các thành phố, thị xã, các căn cứ quân sự, chính trị và hệ thống kho tàng dự trữ vật chất kỹ thuật của địch; tiếp tục truy quét tàn quân địch, trấn áp lực lượng phản cách mạng, thu dung và cải huấn sĩ quan, binh lính địch, bảo vệ an toàn các mục tiêu quan trọng, các địa bàn chiến lược, toàn bộ khu vực biên giới, bờ biển và hải đảo trên chiến trường B2. Mặt khác, Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo thành công các lực lượng vũ trang tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, tháo gỡ bom mìn và các chướng ngại quân sự với khối lượng lớn, giúp đỡ nhân dân ổn định cuộc sống, xây dựng chính quyền cách mạng.
Mười lăm năm kể từ ngày thành lập (năm 1961) đến ngày kết thúc nhiệm vụ (1976), Bộ Chỉ huy Miền đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Quân đội giao phó, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Đại tá, PGS, TS. Hồ Sơn Đài