Vâng. Đúng thế! Tôi tự hào về cây đa Đền Thượng lắm lắm!Tôi và đa gắn bó bao nhiêu là kỷ niệm. Từ nhỏ, chúng tôi thường theo bà lên Đền ngày rằm, mồng một. Đến cuối Phố Tèo (phố Phan Bội Châu), leo lên con dốc đất ngoằn ngoèo là đến ngôi đền nhỏ bé giản dị nép dưới bóng cây đa sum xuê. Trong lúc các cụ vào khấn vái, lũ nhóc chúng tôi nằm, ngồi trên bộ rễ đa nổi cuồn cuộn như những con trăn trên mặt đất, lấy lá đa cuộn thành những bồ đài rải dưới gốc, hoặc xâu lại thành từng chuỗi vòng đeo vào cổ. Chơi chán lại thi nhau đếm có bao nhiêu thân, bao nhiêu bụi tầm gửi trên ngọn. Đếm mỏi mắt, có đứa thiu thiu làm luôn một giấc đến khi bà lễ xong, ra lay lắc mãi mới lồm cồm bò dậy rồi lại cùn cụt chạy đuổi nhau xuống dốc…
Cây đa cổ thụ trong khuôn viên đền Thượng. |
Chúng tôi dần lớn lên, những trò chơi dưới gốc đa của chúng tôi cũng ít dần đi và mất hẳn. Đa sum xuê thêm, bộ rễ chằng chịt những bó sợi quấn những thân lực lưỡng. Vắng bớt những trò chơi con trẻ dưới gốc, đa vẫn sừng sững khổng lồ nhưng thân thương, gần gũi. Tiếng chuông đền ngân nga trên vòm lá rậm, cuộc sống xiết bao thanh bình…Khi chúng tôi học lên cấp ba, trong môn lịch sử, cô giáo cho đi thực tế tại đền. Dưới gốc đa thiêng, cô dẫn dắt trò quay về một thời hào hùng của dân tộc thế kỷ XIII. Thuở đó, dưới vó ngựa hung bạo của quân xâm lược Nguyên Mông, cả thảo nguyên bao la dập nát, châu Âu kinh hoàng cúi rạp. Đế quốc này đã làm bá chủ cả một lãnh thổ rộng lớn chiếm gần hết lục địa Á - Âu. Vậy mà khi vó ngựa ấy bành trướng xuống phía Nam đến ba lần thì cả ba lần đạo quân lừng danh ấy đều bị quân dân Đại Việt đánh cho tan tành. Trên vùng biên viễn này, đích thân Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đốc quân lên thị sát và trấn ải biên thùy… Nhân dân cung kính lập Đền thờ Đức Thánh Trần cũng xuất phát từ lòng biết ơn và tưởng nhớ Ngài… Chúng tôi nghe như nuốt từng lời cô giảng. Văng vẳng bên tai lời tâm huyết của vị tướng lừng danh triều Trần “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xẻ thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng…”.Năm 1979, gia đình tôi chuyển đến quê mới sinh sống. Đêm đêm, trong những giấc mơ, giật mình thoảng như có tiếng chuông thánh thót ngân nga, thấp thoáng một bóng đa thân thương cùng ngôi đền thiêng trên núi Mai Lĩnh, sát ngay biên giới Việt - Trung, soi bóng dưới dòng Nậm Thi xanh và một nỗi nhớ quay quắt …Năm 1991, Lào Cai tái lập. Trở về thị xã dấu yêu, tôi lên Đền Thượng. Từ xa, thấy bóng đa mà bất chợt rưng rưng. Đền Thượng tuy xập xệ hơn nhưng khói nhang vẫn quấn quýt. Tôi gục vào một gốc đa nghẹn ngào “Đa ơi! Con lại về với Đa yêu quý. Chục năm cách xa, Đa không hề bị tàn phá. Có phải sự linh thiêng của Đa đã đẩy lùi mọi xâm hại…?”. Đa rùng mình rất nhẹ. Phải chăng đa cũng cảm nhận được nghĩ suy thổn thức của con người?Thị xã bé nhỏ ngày ấy giờ đã là thành phố chục tuổi đĩnh đạc vươn cao và sầm uất.Đền Thượng nâng cấp đón du khách thập phương. Qua cổng rêu phong, leo 85 bậc là đến sân Đền. Cổ thụ đa mặc cho mọi biến thiên của lịch sử vẫn sum xuê. Hàng ngàn rễ phụ đủ mọi kích cỡ, buông xuống thẳng tắp như bức mành, rất nhiều rễ bám chặt vào đất mẹ hút nhựa sống để góp cho sự khổng lồ của đa. Nhiều chỗ rễ đan nhau bám chặt vào thân như tấm lưới ép… Những bộ rễ vẫn cuồn cuộn nổi trên mặt đất. Có chỗ rễ nổi sần lên những u, cục. Từ gốc chục mét lên là hàng chục thân cây to ôm không xuể. Cụm gốc đa có nhiều khe sâu như chứa đựng những bí hiểm. Rằng, qua bao bão táp dâu bể suốt ba thế kỷ, đa vẫn quật cường, không hề bị gãy cành, bật gốc? Ngắm đa uy nghiêm mà gần gũi, kiên cường bám chặt đất mẹ ròng rã suốt ba thế kỷ, trước mặt là nước bạn Trung Hoa, tôi tự hỏi: Đa hay là cột mốc tượng trưng cho biên giới? Đa hay là sợi chỉ xanh nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai? Đa hay là niềm yêu đắm say của người dân Lào Cai chúng mình?Hè 2011, tôi đưa soạn giả Gia Dũng lên thăm Đền Thượng. Ông trầm trồ “Tôi đã đi khắp nước, chưa từng thấy cây đa nào to, đẹp như cây đa này! Xứng đáng là bảo vật của địa phương!”. Lúc đó, tôi nghĩ do yêu quý Lào Cai mà ông nói quá lên. Nhưng chưa đầy một năm sau, ngày 8/8/2012, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VANE) đã công nhận cây đa Đền Thượng là "Cây di sản Việt Nam”. Đây là cổ thụ đầu tiên của tỉnh được Hội vinh danh và là cây thứ 155 trong cả nước được công nhận danh hiệu này. Quả thật, với hơn ba trăm năm tuổi (Đa được trồng năm 1680 khi bắt đầu xây dựng Đền Thượng vào thời Lê niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705), với chiều cao hơn 30m, chu vi 44m, đa Đền Thượng là cây đa có chu vi toàn bộ thân lớn nhất nước. Dưới gốc là miếu nhỏ thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, có đôi câu đối “Thụ mộc đa sinh sinh thế thế/Tiên cô hóa hiện hiện linh linh”. Đa được coi là hiện thân của Thánh mẫu Thượng Ngàn. Bên đa, tôi nhủ thầm người xưa trồng đa ngoài việc tạo cảnh quan còn muốn gửi gắm đến hậu thế thông điệp xanh và chứng nhân lịch sử chăng?Qua dâu bể, đa vẫn vươn cao, tỏa bóng, trầm mặc làm chứng nhân lịch sử. Bao tao loạn và tao ngộ suốt hơn ba thế kỷ tại vùng đất này như khắc những dấu hoa văn thời gian xám mốc lên thân. Đa xanh tốt cả bốn mùa. Hạ, Đa bừng lên ngăn ngắt, tỏa rợp bóng mát. Thu, đa xào xạc giỡn gió, nô nức chim về làm tổ. Đông, đa kiên cường chắn gió lạnh, sương sa. Xuân, đa bừng bừng đón Lễ hội Đền Thượng… Và suốt tháng năm, lá cờ Lễ hội in đậm chữ “TRẦN” trong khuôn viên tung bay thấp thoáng bên Đa. Rằm tháng Giêng hàng năm, du khách thập phương tấp nập đổ về tham dự lễ hội, tíu tít chụp ảnh kỷ niệm dưới gốc đa.