Bài học lịch sử từ dịch 'cúm châu Á' 1957-1958

Virus cúm xuất hiện tại Trung Quốc vào mùa Đông năm 1957 rồi nhanh chóng lây lan khắp thế giới qua tàu thuyền, máy bay và tàu hỏa.
Chú thích ảnh
​Thủy thủ Anh mắc "cúm châu Á" năm 1957. Ảnh: The Lancet

Đến tháng 4 cùng năm, virus gây ra dịch bệnh tại Hong Kong (Trung Quốc) khiến 250.000 người mắc, tương đương với 10% dân số tại Hong Kong khi đó. Tháng 6 cùng năm, Ấn Độ ghi nhận trên 1 triệu ca nhiễm.

Không lâu sau đó, virus “đặt chân” đến Anh và đến tháng 9 đươc ghi nhận xuất hiện ở Anh, Xứ Wales cùng Scotland. Mùa hè năm 1957, virus cúm A (H2N2) xuất hiện tại Đông Á này đã "đặt chân" đến nhiều thành phố biển Mỹ. Các bác sĩ đều ngỡ ngàng trước mức lây nhiễm của dịch bệnh cũng như tình trạng virus tấn công người trẻ tuổi.

Theo tạp chí The Lancet, ở thời điểm năm 1957, không ai dám chắc rằng thủ phạm gây dịch bệnh khi đó là loại virus mới hay là biến thể của virus gây đại dịch cúm Tây Ban Nha (1918-1919).

Không như ngày nay, các nhà dịch tễ học khi đó chưa có năng lực lần dấu tác nhân gây bệnh mới. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng bỏ lỡ các tín hiệu ban đầu. Và các chuyên gia chỉ biết đến dịch “cúm châu Á” khi tờ The New York Times (Mỹ) đăng tải các nội dung về dịch bệnh tại Hong Kong. Năm 1957, các chuyên gia virus vẫn chưa nắm bắt được cơ chế di truyền trong sự xuất hiện của chủng virus mới. Điều này dẫn đến bối rối về việc liệu virus cúm khi đó có phải là biến thể của H1N1 trong đại dịch cúm Tây Ban Nha hay không.

Bệnh nhân mắc “cúm châu Á” thường bị run chân, ớn lạnh, kiệt sức, đau họng, chảy nước mũi, ho và sốt cao. Người trưởng thành còn bị đau chân, trẻ em lại có tình trạng đau đầu và một số em nhỏ tuổi còn bị chảy máu cam. Các triệu chứng thường không quá nghiêm trọng và bệnh nhân có thể hồi phục sau một thời gian nghỉ ngơi với biện pháp hạ sốt đơn giản. Có tới 50% các trường hợp tử vong tại Anh vì “cúm châu Á” có ghi nhận tình trạng viêm phổi và viêm phế quản.

Chú thích ảnh
Một y tá tại bệnh viện Montefiore ở New York (Mỹ) tiêm vaccine phòng "cúm châu Á" năm 1957. Ảnh: Alamy Stock
Chú thích ảnh
Vaccine phòng "cúm châu Á" được phân phối năm 1957 tại Mỹ. Ảnh: Smithsonian

Giới chức Mỹ và Anh đã không có động thái để giảm thiểu tình trạng lây lan của dịch cúm như kiểm tra tại biên giới hay cách ly. Một sinh viên trẻ tại bệnh viện St Thomas (London) khi đó, ông Hugh Pennington kể lại rằng các bệnh viện chưa có khoa chăm sóc đặc biệt vào năm 1957. Khi làn sóng dịch thứ hai hình thành vào mùa Thu cùng năm tại Anh, các bệnh viện tiếp nhận số bệnh nhân tăng đột biến. Giải pháp giới chức Anh và Mỹ lựa chọn ở thời điểm đó là tiêm vaccine.

Nhà vi trùng học Maurice Hilleman tại viện nghiên cứu quân sự Walter Reed đã gửi các mẫu virus gây “cúm châu Á” đến 6 công ty dược lớn nhất của Mỹ và hối thúc họ sản xuất vaccine. Các công ty dược Mỹ đã đồng ý đến tháng 9/1957 cung cấp hàng chục triệu liều.

Đến tháng 11/1957, tỷ lệ mắc “cúm châu Á” giảm tại Mỹ, ở thời điểm này, có 53 triệu liều vaccine đã được phân phối. Tờ Smithsonian cho biết các nhà nghiên cứu ước tính rằng nếu không điều chế vaccine kịp thời, nhiều khả năng có tới 1 triệu người Mỹ có thể tử vong vì dịch “cúm châu Á”.

Đến tháng 4/1958, dịch “cúm châu Á” kết thúc với 20.000 người dân Anh và 80.000 công dân Mỹ thiệt mạng. Trên toàn thế giới, virus cúm A (H2N2) đã khiến trên 1 triệu người tử vong.

Mặc dù vaccine chưa tạo được ảnh hưởng đáng kể trong dịch “cúm châu Á” năm 1957 nhưng đã tạo được một tiền lệ mới và đạt hiệu quả vào năm 1968 khi một dịch cúm khác bùng phát từ Hong Kong (Trung Quốc). Khi đó, vaccine phòng cúm đã được điều chế và sẵn sàng sử dụng chỉ sau 66 ngày.

Dịch cúm năm 1968, còn được gọi là “cúm Hong Kong”, khiến 30.000 người Anh và 100.000 người Mỹ tử vong. Trong đợt cao điểm dịch vào tháng 12/1968, tờ The New York Times miêu tả đây là “một trong những thời điểm tồi tệ nhất lịch sử Mỹ”. Tuy nhiên, khi đó chỉ có vài trường học đóng cửa còn các hoạt động kinh doanh vẫn diễn ra bình thường. Dịch cúm A (H3N2) năm 1968 dẫn đến cái chết của hơn 1 triệu người trên toàn cầu.

Hà Linh/Báo Tin tức

Dành cho bạn

Quân nhân Ukraine tại lễ chuyển giao các thiết bị quân sự và vũ khí hạng nặng tại Kiev. Ảnh tư liệu: TTXVN

NATO mở cơ chế mới, giúp Ukraine mua vũ khí rẻ hơn, nhanh hơn

NATO sẽ cho phép Ukraine mua vũ khí, đạn dược và thiết bị quân sự thông qua Cơ quan Hỗ trợ và Mua sắm NATO (NSPA), qua đó giúp Kiev tiếp cận nguồn cung quốc phòng nhanh hơn, với chi phí thấp hơn, đồng thời tăng cường liên kết giữa ngành công nghiệp quốc phòng Ukraine và các đồng minh phương Tây.

Hàn Quốc và Mỹ kết thúc tập trận rà phá thủy lôi đa quốc gia

Hàn Quốc và Mỹ kết thúc tập trận rà phá thủy lôi đa quốc gia

Hàn Quốc và Mỹ vừa kết thúc cuộc tập trận rà phá thủy lôi đa quốc gia lần thứ 9 năm 2026 ngoài khơi thành phố cảng Busan, với sự tham gia của lực lượng hải quân đến từ 15 quốc gia đối tác, nhằm nâng cao năng lực tác chiến và khả năng phối hợp trong các hoạt động rà phá thủy lôi trên biển.

Trại Andersonville ở Georgia ngày 17/8/1864. Ảnh: historydefined.net

Nhà tù tử thần khiến gần 13.000 tù binh thiệt mạng – Kỳ 1

Nhà tù Andersonville (còn được gọi là Trại Sumter) là một cơ sở giam giữ quân sự do phe Liên minh miền Nam thành lập trong cuộc Nội chiến Mỹ. Được xây dựng năm 1864 tại hạt Sumter ở bang Georgia, nhà tù này hoạt động trong khoảng 14 tháng. Chỉ trong thời gian ngắn đó, nơi đây đã trở thành một trong những cơ sở giam giữ tù binh lớn nhất và gây chết chóc nhiều nhất ở Bắc Mỹ.

Giải mã công nghệ mạng lưới giúp UAV Nga duy trì kết nối khi tập kích Kiev

Giải mã công nghệ mạng lưới giúp UAV Nga duy trì kết nối khi tập kích Kiev

Mạng lưới liên lạc dạng lưới cho phép các thiết bị bay không người lái (UAV) chuyển tiếp tín hiệu cho nhau, mở rộng phạm vi điều khiển và truyền hình ảnh trực tiếp về người vận hành. Công nghệ này đang được Nga sử dụng để duy trì kết nối với UAV tầm xa, hỗ trợ trinh sát và điều chỉnh hoạt động khi tiếp cận mục tiêu tại Ukraine.