Australia sử dụng phần mềm phát hiện người nhiễm virus SARS-CoV-2

Australia sẽ đưa vào sử dụng một phần mềm điện thoại di động mới có khả năng cảnh báo nguy cơ nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19, bằng cách sử dụng Bluetooth không dây để theo dõi sự di chuyển giữa những người dùng điện thoại và báo hiệu cho cộng đồng khi có người mắc COVID-19 tiếp xúc gần.
Chú thích ảnh
Nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 tại Canberra, Australia ngày 20/3/2020. Ảnh: THX/TTXVN

Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, ngày 14/4, Chính phủ Australia kêu gọi người dân tích cực tham gia tải và sử dụng ứng dụng nói trên, với hy vọng đây sẽ là một trong những biện pháp tích cực và nhanh chóng để có thể dập tắt sớm nhất sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trên phạm vi quốc gia.

Ứng dụng được thiết lập tương tự chương trình TraceTogether tại Singapore đã được chính phủ nước này đưa vào sử dụng từ ngày 20/3 và ghi nhận những hiệu quả tích cực trong việc kiềm chế sự lây lan của virus SARS-CoV-2. Ứng dụng sẽ trao đổi tín hiệu Bluetooth không dây của người dùng với các điện thoại khác ở phạm vi gần sử dụng cùng ứng dụng, ghi lại dữ liệu lịch trình của điện thoại và gửi thông tin này đến các cơ quan y tế. Những người đồng ý sử dụng ứng dụng và nhiễm virus có thể thông báo với cơ quan y tế và cho phép cơ quan này truy cập dữ liệu của họ trên phần mềm để trực tiếp báo hiệu tới bất kỳ ai khác đã tiếp xúc gần trong vòng 24 giờ trước.

Thông báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Thủ tướng Australia Scott Morrison cho biết nước này sẽ triển khai ứng dụng công nghệ mới nói trên trong vòng vài tuần tới.  Người dân được quyền lựa chọn và không bắt buộc phải sử dụng. Tuy nhiên, ông Morrison hy vọng mọi người sẽ hưởng ứng vì để ứng dụng đạt hiệu quả cần ít nhất 40% dân cư trong cộng đồng cùng sử dụng, giúp nâng cao khả năng nhận diện người nhiễm virus SARS-CoV-2 một cách chính xác nhất, trước khi lây nhiễm cho người khác.

Mặc dù vậy, việc có nên sử dụng ứng dụng này hay không vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi tại Australia. Giảng viên cao cấp về truyền thông tại Đại học Swinburne, Tiến sĩ Belinda Barnet bày tỏ lo ngại về vấn đề quyền riêng tư, theo đó lịch sử dữ liệu người dùng có thể bị sử dụng vào các mục đích khác ngoài cảnh báo nguy cơ lây nhiễm virus SARS-CoV-2. 

Trong phiên điều trần trước Quốc hội Australia ngày 14/4, Giám đốc Cơ quan Y tế Australia Brendan Murphy cho rằng cần phải làm rõ hơn và thuyết phục cộng đồng chấp nhận ứng dụng này, đồng thời khẳng định đây sẽ là một biện pháp hữu hiệu trong cuộc chiến chống COVID-192. Hiện Bộ trưởng Tư pháp Australia Christian Porter đã bắt đầu thảo luận với Ủy viên Quyền riêng tư của Quốc hội về những lo ngại liên quan tới ứng dụng. 

Theo thông báo từ Chính phủ Singapore, phần mềm công nghệ TraceTogether không thu thập dữ liệu GPS hoặc địa điểm của người dùng. Chương trình này chỉ truy cập và lưu trữ số điện thoại di động của người dùng và một số nhận dạng “ẩn danh ngẫu nhiên” các số điện thoại của những người tiếp xúc gần trong một khoảng thời gian nhất định. Toàn bộ thông tin được lưu trữ trên một máy chủ an toàn và không được công khai. Người sử dụng ứng dụng sẽ không thấy được dữ liệu điện thoại của những người tiếp xúc gần, nhưng thông tin về các tiếp xúc gần trong một khoảng thời gian của họ có thể được nhà chức trách khôi phục nếu người dùng nhiễm virus và đồng ý cho truy cập nguồn dữ liệu đã được lưu trữ.

Diệu Linh (TTXVN)

Dành cho bạn

Ứng dụng năng lượng nguyên tử tại nhiều lĩnh vực tại Việt Nam

Ứng dụng năng lượng nguyên tử tại nhiều lĩnh vực tại Việt Nam

Năng lượng nguyên tử đang được ứng dụng tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, nổi bật là y tế, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường. Cùng với mở rộng các ứng dụng, Việt Nam đang đặt yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực để đáp ứng giai đoạn phát triển mới của lĩnh vực này.

Đại học Manchester và hành trình biến nghiên cứu thành 11 startup

Đại học Manchester và hành trình biến nghiên cứu thành 11 startup

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường, Đại học Manchester đã góp phần hình thành 11 startup trong 11 năm, cho thấy vai trò của các trường đại học trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Kinh nghiệm này cũng gợi mở hướng kết nối chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.