Vụ hỏa hoạn xảy ra ngày 5/11 tại điểm học tạm của Trường THCS Kim Liên (Hà Nội) đã để lại hậu quả vô cùng đau lòng khi một người tử vong, hàng trăm học sinh phải sơ tán khẩn cấp và việc học trực tiếp bị gián đoạn. Hậu quả thực tế ấy không chỉ là sự xáo trộn tạm thời đối với nhiều gia đình mà còn phơi bày những lỗ hổng đáng lo ngại trong công tác phòng ngừa, kiểm soát rủi ro ở các cơ sở giáo dục chuyển đổi công năng.
Ngay trong ngày xảy ra sự cố, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã ký Công điện số 72/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu khẩn trương điều tra nguyên nhân, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức liên quan và giao Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ trì rà soát các cơ sở giáo dục trên diện rộng. Yêu cầu này phản ánh sự sát sao, quyết liệt của Chính phủ nhằm khắc phục tình trạng chủ quan, lơ là các quy định an toàn cháy, nổ. Tuy nhiên, yêu cầu ấy cần được thực thi bằng việc xác định rõ từng nguy cơ cụ thể, người chịu trách nhiệm xử lý và thời hạn khắc phục. Một đợt kiểm tra nếu chỉ dừng ở việc ghi nhận tồn tại rồi chờ đợi kinh phí sẽ chưa thể bảo vệ được học sinh, nhất là khi các hoạt động dạy và học tại nơi có nguy cơ vẫn tiếp diễn hằng ngày.
Chúng ta phải nhìn nhận một thực tế rằng, một nơi học tạm vẫn là nơi hàng trăm gia đình tin tưởng gửi gắm con em mình mỗi ngày. Việc ngôi trường chính đang trong quá trình xây dựng, thi công hay sửa chữa không thể và không được phép làm giảm đi tiêu chuẩn an toàn tối thiểu đối với địa điểm học thay thế.
Sự việc lần này càng đáng suy nghĩ hơn khi đặt cạnh bức tranh vĩ mô về tình trạng thừa - thiếu cơ sở vật chất giáo dục trên cả nước. Tại phiên thảo luận Quốc hội chiều 30/10, đại biểu Nàng Xô Vi (Đoàn Quảng Ngãi) đưa ra số liệu cho thấy, cả nước hiện còn thiếu 45.691 phòng học và 27.084 phòng học bộ môn. Đây là một quy mô thiếu hụt đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn và cần một kế hoạch dài hơi trong nhiều năm. Ở một chiều khác, tham luận của Bộ GD&ĐT hồi tháng 7/2026 lại ghi nhận sau quá trình sắp xếp bộ máy, toàn quốc có 1.021 điểm trường dôi dư, bỏ trống cùng 1.370 cơ sở đã chuyển đổi công năng. Những địa điểm chưa sử dụng này cần được xem xét cùng với nhu cầu về chỗ học và phương án xử lý tài sản công.
Những mảnh ghép trái ngược này cho thấy sự chênh lệch lớn trong việc phân bổ tài nguyên, đòi hỏi các địa phương phải có sự phân loại cụ thể: Nơi nào dùng được, cần sửa gì và nơi nào tuyệt đối không thể tiếp tục làm trường. Nếu chỉ báo cáo chung chung rằng đang thiếu trường lớp trong khi chưa xác định rõ khả năng sử dụng của từng cơ sở dôi dư, địa phương sẽ rất khó chứng minh mình đã lựa chọn phương án đầu tư hiệu quả nhất.
Việc tận dụng các cơ sở dôi dư là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn nhằm tránh lãng phí. Chỉ thị số 31/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ năm học 2026 - 2027 đã yêu cầu rõ việc tận dụng công trình, trụ sở dôi dư sau sắp xếp thành cơ sở giáo dục, y tế. Dẫu vậy, bài toán giải quyết nơi học không phải là một phép toán trừ cơ học đơn thuần. Không thể lấy số điểm trường bỏ trống để bù trừ trực tiếp cho số phòng học đang thiếu hụt. Cơ sở dôi dư có thể nằm ở vị trí cách xa khu dân cư đang tăng sĩ số, hạ tầng đã xuống cấp trầm trọng hoặc thiết kế ban đầu không hề phù hợp với cấp học mới cần bố trí.
Bởi lẽ, đằng sau mỗi quyết định tận dụng cơ sở vật chất là sự an toàn tính mạng và tâm lý của hàng trăm học sinh, như một trụ sở trống đương nhiên chưa phù hợp làm trường học. Việc tận dụng tài sản bắt buộc phải tính đủ chi phí chuyển đổi, nếu chỉ vội vã kê bàn ghế, dựng bảng đen để kịp đón lớp mà chưa bảo đảm tiêu chuẩn lối thoát hiểm, hệ thống điện lưới, công trình vệ sinh và không gian sinh hoạt, chúng ta đang biến việc tiết kiệm trước mắt thành sự chuyển giao rủi ro lên vai người học.
Tương tự, phương án học tạm phải được tính toán kỹ lưỡng ngay trong kế hoạch xây dựng, sửa chữa trường chính. Cơ quan quyết định đầu tư cần nắm rõ học sinh sẽ học ở đâu suốt thời gian thi công và kinh phí bảo đảm điều kiện sử dụng bãi đáp tạm thời là bao nhiêu. Khi công trình chậm tiến độ, trách nhiệm giải quyết phải bao gồm cả việc duy trì điều kiện an toàn khi thời gian học tạm kéo dài.
Sự chông chênh của các em học sinh chỉ có thể được xoa dịu khi trách nhiệm quản lý được định vị minh bạch. Hiệu trưởng là người quản lý hoạt động hằng ngày, nhưng thực tế thường không nắm quyền quyết định việc chọn địa điểm học thay thế hay phê duyệt ngân sách sửa chữa cơ sở vật chất. Khi xem xét một nguy cơ mất an toàn, cần làm rõ nhà trường đã phát hiện, báo cáo thế nào; và UBND các cấp có thẩm quyền đã tiếp nhận, giải quyết ra sao.
Tại hội nghị tổng kết năm học ngày 27/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã thẳng thắn nhìn nhận năng lực thực thi chính sách giáo dục có nơi còn hạn chế, tình trạng thiếu phòng học và bất cập về an toàn trường học cần được ưu tiên giải quyết. Việc nhiều đơn vị cùng tham gia vào quá trình cấp phép, tu sửa phải giúp tăng khả năng xử lý vấn đề, tránh việc đùn đẩy, kéo dài thời gian chờ đợi.
Trở lại sự việc tại Hà Nội, Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng đã kịp thời yêu cầu làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm vi phạm. Sở GD&ĐT Hà Nội cũng lập tức yêu cầu không tổ chức dạy học tại địa điểm chưa bảo đảm an toàn. Nhưng để những chỉ đạo này thực sự đi vào đời sống, các địa phương cần công khai kết quả kiểm tra định kỳ và có sẵn phương án bố trí chỗ học dự phòng khi cơ sở hiện tại không đủ điều kiện.
Sau cùng, điều cốt lõi nhất là phụ huynh cần được biết nơi con mình gắn bó mỗi ngày đã được kiểm tra ra sao và cơ quan nào sẽ tiếp nhận phản ánh. Giáo viên cần một phương án sơ tán khả thi ngay tại cơ sở đang sử dụng. Một nền hành chính kiến tạo, trọn vẹn lý tình phải bắt đầu từ việc chăm lo sinh mạng cho thế hệ tương lai, mang đến những câu trả lời bằng hành động thực tế, cụ thể hơn những lời trấn an sau mỗi lần sự cố không hay xảy ra.