Qua các thời kỳ, mô hình giáo dục, phương thức tuyển chọn và yêu cầu đối với người tài có nhiều thay đổi, nhưng tư tưởng coi trọng tri thức, phát hiện, đào tạo và trọng dụng hiền tài vẫn được tiếp nối. Trong giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt giáo dục đại học trước một sứ mệnh lớn hơn: không chỉ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao mà phải trở thành nơi hội tụ những con người xuất sắc, tạo ra tri thức, công nghệ và năng lực mới cho quốc gia.
Tiếp nối truyền thống trọng hiền tài, kiến tạo đỉnh cao tri thức
Từ rất sớm, việc học trong lịch sử Việt Nam đã gắn với yêu cầu tuyển chọn người tài phụng sự đất nước. Năm 1075, dưới triều vua Lý Nhân Tông, khoa thi đầu tiên được tổ chức. Một năm sau, Quốc Tử Giám được thành lập. Được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, Quốc Tử Giám đánh dấu bước phát triển quan trọng của nền giáo dục, đồng thời cho thấy việc đào tạo, tuyển chọn người có học vấn đã từng bước trở thành một yêu cầu của quốc gia.
Tư tưởng coi trọng người có học, người tài được kết tinh trong lời của Thân Nhân Trung khắc trên bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà càng lên cao; nguyên khí suy thì nước yếu mà càng xuống thấp”.
Gần một thiên niên kỷ kể từ khi Quốc Tử Giám được thành lập, bài toán phát hiện, đào tạo và trọng dụng người tài đang được đặt ra trong một bối cảnh hoàn toàn khác. Một quốc gia hơn 100 triệu dân muốn nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ cần nâng cao mặt bằng chất lượng nguồn nhân lực mà còn phải tạo ra những đỉnh cao về tri thức và nhân tài.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20.000 người học các chương trình tài năng, ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh; tuyển dụng ít nhất 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài. Việt Nam phấn đấu có ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á và ít nhất một cơ sở thuộc nhóm 100 thế giới trong một số lĩnh vực.
Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu đầu tư mạnh, có cơ chế đặc thù, vượt trội để phát triển 3-5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, thực hiện sứ mệnh đào tạo nhân tài quốc gia.
Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu phát triển giáo dục đại học không còn dừng ở mở rộng quy mô. Hệ thống phải hình thành những cơ sở có khả năng hội tụ người học xuất sắc, nhà khoa học giỏi, các nhóm nghiên cứu mạnh và nguồn lực khoa học, công nghệ hiện đại; qua đó tạo ra những giá trị mới cho đất nước.
Nếu Quốc Tử Giám từng là nơi đào tạo những người học ưu tú trong một giai đoạn lịch sử thì đại học tinh hoa ngày nay phải tiếp nối sứ mệnh phát hiện, bồi dưỡng nhân tài trong một không gian rộng lớn hơn, với sự cạnh tranh toàn cầu về tri thức, công nghệ và con người.
Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, “tinh hoa” không nên được hiểu hẹp là chỉ tuyển chọn những người giỏi ở đầu vào. Giá trị của đại học tinh hoa phải được thể hiện ở chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu đỉnh cao, khả năng tạo ra công nghệ chiến lược, đóng góp cho chính sách và phụng sự đất nước.
Một đại học tinh hoa phải có tiềm lực khoa học, công nghệ mạnh; hội tụ những nhà khoa học xuất sắc, chuyên gia công nghệ, giảng viên giỏi và sinh viên có năng lực nổi trội. Đây phải là môi trường để những con người xuất sắc cùng làm việc, tạo ra tri thức mới và giải quyết những vấn đề lớn mà từng cá nhân hay từng đơn vị riêng lẻ khó có thể thực hiện.
Giáo sư Nguyễn Đình Đức cho rằng, đại học không thể chỉ dừng lại ở công bố khoa học. Kết quả nghiên cứu cần được chuyển hóa thành công nghệ, đóng góp cho chính sách và giải quyết những bài toán phát triển cụ thể. Điều đó đòi hỏi đầu tư có trọng tâm vào các lĩnh vực chiến lược, đồng thời không xem nhẹ khoa học cơ bản, bởi đây là nền tảng để phát triển công nghệ lõi, công nghệ nguồn.
Như vậy, giá trị của đại học tinh hoa không chỉ nằm ở danh tiếng, thứ hạng hay khả năng thu hút những người học xuất sắc, mà quan trọng hơn là năng lực sáng tạo tri thức, làm chủ công nghệ và đóng góp vào những mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam khi chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Xây dựng môi trường để nhân tài phát triển và cống hiến
Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng những đại học tinh hoa, bên cạnh nguồn lực đầu tư, yêu cầu quan trọng là hình thành cơ chế đủ sức thu hút, phát huy và giữ chân người giỏi. Muốn cạnh tranh với các đại học hàng đầu trong khu vực và thế giới, các trường cần có quyền chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, đặt hàng nghiên cứu, hợp tác quốc tế và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tự chủ phải gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời tạo không gian cho sáng tạo và khả năng phản ứng nhanh trước những thay đổi của khoa học, công nghệ.
Nhìn từ thực tiễn Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Hải Tùng, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, để đáp ứng những yêu cầu mới, một đại học cần ba yếu tố: con người xuất sắc, cơ sở vật chất hiện đại và hệ thống quản trị tiên tiến.
Trong đó, yếu tố trước hết là tập trung được giảng viên, nhà khoa học, nghiên cứu sinh, sinh viên ưu tú và các nhà khoa học trẻ tài năng trong và ngoài nước, có khả năng tham gia giải quyết những bài toán lớn của quốc gia. Cùng với đó là hạ tầng nghiên cứu đáp ứng yêu cầu phát triển các lĩnh vực then chốt, công nghệ chiến lược và mô hình quản trị hiệu quả để kết nối nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Xây dựng đại học tinh hoa không đơn thuần là đầu tư thêm những tòa nhà, phòng thí nghiệm hay trang thiết bị hiện đại mà quan trọng hơn là kiến tạo một hệ sinh thái nghiên cứu và sáng tạo. Cơ sở vật chất là điều kiện cần nhưng con người và môi trường để con người phát huy năng lực mới quyết định sức mạnh của một đại học.
Sự thay đổi ấy cũng phải bắt đầu từ quá trình đào tạo. Người học, đặc biệt là sinh viên tài năng, không thể chỉ tiếp nhận những kiến thức có sẵn mà cần sớm được đặt trong môi trường nghiên cứu, tiếp xúc với những vấn đề chưa có lời giải và tham gia giải quyết các bài toán thực tế.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh yêu cầu “học sâu”, gắn việc học với nghiên cứu, trải nghiệm và thực tiễn. Nếu học không gắn với nghiên cứu, không gắn với trải nghiệm, không gắn với những bài toán thực tế thì chắc chắn sẽ tụt hậu.
Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, ngay khi bước vào trường, sinh viên cần được gắn với nghiên cứu; muốn vậy, đội ngũ giảng viên cũng phải làm nghiên cứu. Thước đo đối với một trường đại học không thể chỉ là thứ hạng, số lượng công bố hay những chỉ số đơn lẻ. Điều quan trọng hơn là mỗi trường mang lại giá trị gì cho người học, xã hội và đất nước.
Tuy nhiên, xây dựng những đại học tinh hoa mới giải quyết một phần của bài toán nhân tài. Một quốc gia có thể đầu tư để phát hiện học sinh xuất sắc, xây dựng chương trình tài năng, đào tạo sinh viên, nghiên cứu sinh giỏi, nhưng nếu sau quá trình đó, người tài không có môi trường để tiếp tục phát triển và cống hiến thì nguồn lực đầu tư khó tạo ra giá trị tương xứng.
Bởi vậy, đào tạo nhân tài phải đi cùng trọng dụng nhân tài. Quá trình này cần được đặt trong một chuỗi liên tục, bao gồm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng, đãi ngộ và trao cơ hội để những người có năng lực đảm nhận các nhiệm vụ lớn.
Theo Giáo sư Nguyễn Đình Đức, nhiệm vụ của đại học không chỉ là đào tạo người học có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực cạnh tranh toàn cầu mà còn phải góp phần hình thành thế hệ trí thức trẻ có trách nhiệm xã hội và khát vọng phụng sự đất nước. Năng lực toàn cầu rất quan trọng nhưng tri thức tiếp nhận được phải có khả năng chuyển hóa để giải quyết những vấn đề của Việt Nam.
Trong bối cảnh nhân lực chất lượng cao ngày càng dịch chuyển trên phạm vi toàn cầu, chính sách trọng dụng nhân tài cũng cần được tiếp cận rộng hơn. Thu hút nhân tài không nhất thiết chỉ là đưa trí thức Việt Nam ở nước ngoài trở về làm việc lâu dài trong nước. Quan trọng hơn là xây dựng những cơ chế linh hoạt để họ có thể tham gia giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu sinh, chuyển giao công nghệ, kết nối các mạng lưới học thuật và cùng giải quyết những bài toán của Việt Nam. Qua đó, nguồn lực trí tuệ của người Việt trên toàn cầu có thể trở thành một phần của năng lực phát triển quốc gia.
Khát vọng xây dựng những đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế không chỉ nhằm tạo ra các đỉnh cao tri thức, khoa học và công nghệ mà còn mở ra môi trường để nhân tài được phát hiện, đào tạo, trọng dụng và cống hiến. Đó cũng là cách tiếp nối truyền thống trọng học, trọng hiền tài bằng những giá trị và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.