Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc

Ngày 9/12, hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 14 do Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.

Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc (Vietnam Conference on Nuclear Science and Technology –VINANST) được tổ chức hai năm một lần, là sự kiện quan trọng trong hoạt động nghiên cứu, triển khai và ứng dụng của ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Hội nghị là nơi gặp gỡ và trao đổi các kết quả nghiên cứu, ứng dụng mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ hạt nhân của các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước. Đặc biệt, hội nghị là cơ hội để các nghiên cứu viên trẻ trong nước có cơ hội giao lưu và trao đổi, trau dồi thêm kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng thực tế khác.

Chú thích ảnh
Bệnh viện đa khoa Đồng Nai triển khai ứng dụng công nghệ hạt nhân trong chẩn đoán và phát hiện sớm di căn ung thư. Ảnh tư liệu: Lê Xuân/TTXVN

Năm nay, do diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 14 được tổ chức với quy mô lớn và tầm khu vực, thu hút được sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý, chuyên gia đến từ các quốc gia có nền khoa học và công nghệ hạt nhân tiên tiến.

Tại hội nghị, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Trần Chí Thành nhấn mạnh: Hội nghị Khoa học và Công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 14 là một sự kiện khoa học quan trọng không chỉ đối với cộng đồng năng lượng nguyên tử Việt Nam, mà còn có ý nghĩa lớn đối với thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử của đất nước trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực thúc đẩy khoa học công nghệ, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.

Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc gồm nhiều phiên với các ban chuyên môn tập trung vào các nội dung như: Ứng dụng của phương pháp định hướng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong kỹ thuật lò phản ứng hạt nhân; ứng dụng chùm nơtron của lò phản ứng nghiên cứu và một số kết quả tại lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt; Bằng chứng thực nghiệm về hiện thực vật lý của photon đơn năng trong giao thoa hai khe bất đối xứng, một bằng chứng thực nghiệm đồng thời quan sát được lưỡng tính đối ngẫu cả sóng và hạt sẽ dẫn đến nhu cầu phải xem xét lại cách giải thích cơ học lượng tử chính thống đương đại, cho thấy thí nghiệm hai khe bất đối xứng với một chùm laser có thể là một minh họa đơn giản nhất của lời giải "khe nào" để xác định có hay không khái niệm thực thể vật lý của hạt vi mô...

Trong lĩnh vực y tế, báo cáo của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Hà, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 về "Dược chất phóng xạ sử dụng trong y học hạt nhân tại Việt Nam: Hiện tại và triển vọng". Liên quan đến vấn đề này, cho thấy kế hoạch phát triển các ứng dụng năng lượng nguyên tử trong y tế của chính phủ, nhiều trung tâm cyclotron và PET/CT, SPECT/CT đang phát triển trên phạm vi cả nước. Báo cáo nhấn mạnh đến các đồng vị phóng xạ sử dụng trong y học hạt nhân được sản xuất từ các nguồn khác nhau như lò phản ứng hạt nhân, cyclotron và máy phát phóng xạ cũng như tình hình về dược chất phóng xạ (DCPX) ở trong nước. Hiện nay ở Việt Nam, ngoài các DCPX kinh điển như 131I, 99mTc, 18F-FDG thì có rất ít DCPX mới được sử dụng cũng như cấp phép lưu hành so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này một phần do những đặc thù riêng của các DCPX khác biệt hoàn toàn so với các thuốc thông thường khác. Dựa trên các quy định hiện hành của Bộ Y tế, báo cáo đưa ra đề xuất có thể áp dụng các DCPX mới vào thực hành lâm sàng y học hạt nhân.

Đặc biệt, tại hội nghị, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Nhị Điền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt cho biết về tình hình thực hiện dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân và đề xuất các hướng nghiên cứu, ứng dụng chính của Lò phản ứng nghiên cứu mới Đà Lạt. Theo đó, dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân với thiết bị chính là lò phản ứng nghiên cứu mới công suất 10 MWt được thực hiện trên cơ sở Hiệp định Liên Chính phủ giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Dự án đã qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi (Pre-FS) và đang bắt đầu nghiên cứu khả thi (FS) gồm: Khảo sát kỹ thuật và đánh giá địa điểm đã được phê duyệt trong chủ trương đầu tư; Lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (Báo cáo FS); Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, trên cơ sở đó lập Hồ sơ đề nghị phê duyệt địa điểm xây dựng Dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân để thực hiện trong giai đoạn 2022-2024...

Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 14 diễn ra đến hết ngày 10/12/2021.

HL (TTXVN)

Dành cho bạn

Một robot được trưng bày tại khu vực triển lãm của Hội nghị Internet Công nghiệp Toàn cầu năm 2025 ở Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, ngày 6/9/2025. Ảnh: Tân Hoa Xã

Trung Quốc thúc đẩy AI, cảnh báo cuộc đua đầu tư mù quáng

Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy trí tuệ nhân tạo (AI), đồng thời cảnh báo nguy cơ đầu tư tràn lan, chạy theo phong trào. Động thái này gợi mở bài toán với Việt Nam trong triển khai Nghị quyết 57: làm thế nào để biến nguồn lực đầu tư công nghệ thành sản phẩm và hiệu quả kinh tế thực chất.

Đón dòng vốn FDI - Bài cuối: Kết nối để tạo giá trị mới

Đón dòng vốn FDI - Bài cuối: Kết nối để tạo giá trị mới

Để thu hút FDI, khu công nghiệp cần gắn mặt bằng sản xuất với giao thông, nhà ở và dịch vụ phù hợp. Những yếu tố này sẽ quyết định một địa điểm đầu tư có đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp và đời sống người lao động trong dài hạn hay không.

Đón dòng vốn FDI - Bài 3: Biến phụ phẩm thành nguồn lực mới

Đón dòng vốn FDI - Bài 3: Biến phụ phẩm thành nguồn lực mới

Nhà đầu tư FDI quan tâm đến khả năng sử dụng nước, xử lý chất thải và chứng minh tác động môi trường trong chuỗi sản xuất. Việc kết nối doanh nghiệp để tận dụng phụ phẩm có thể trở thành lợi thế của khu công nghiệp, với điều kiện có dữ liệu, hạ tầng phù hợp.

Đón dòng vốn FDI - Bài 2: Từ cho thuê đất đến vận hành

Đón dòng vốn FDI - Bài 2: Từ cho thuê đất đến vận hành

  Nhà xưởng, kho xây sẵn giúp nhà đầu tư FDI có thêm lựa chọn, song diện tích thuê mới chỉ là điểm khởi đầu. Khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, duy trì điện nước và kiểm soát chi phí vận hành sẽ quyết định doanh nghiệp có tiếp tục mở rộng tại khu công nghiệp hay không.