Quy định mới về điều kiện hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

Chính phủ đã ban hành Nghị định 96/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản, trong đó quy định cụ thể về sàn giao dịch bất động sản.
Chú thích ảnh
Ảnh minh họa: Tuấn Anh/TTXVN

Theo Nghị định, tổ chức, cá nhân thành lập sàn giao dịch bất động sản gửi hồ sơ theo quy định đến cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh nơi có trụ sở chính của sàn giao dịch bất động sản (nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc nộp hồ sơ trực tuyến) để được cấp giấy phép hoạt động.

Hồ sơ đăng ký hoạt động bao gồm: Đơn đăng ký hoạt động của sàn giao dịch bất động sản (theo mẫu tại Phụ lục XVII); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Luật Kinh doanh bất động sản; Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đối với trụ sở sàn giao dịch bất động sản; Bản sao giấy chứng nhận hoàn thành khóa học quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản của người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản; Danh sách các môi giới bất động sản đã được cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, cấp Giấy phép hoạt động cho sàn giao dịch bất động sản (theo mẫu tại Phụ lục XVIII); trong trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Sau khi cấp Giấy phép hoạt động, cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh báo cáo về Bộ Xây dựng để đưa thông tin của sàn giao dịch bất động sản lên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng. Thông tin của sàn giao dịch bất động sản gồm: Tên sàn giao dịch bất động sản; tên doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch bất động sản; họ tên của người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản; địa chỉ và số điện thoại liên hệ của sàn giao dịch bất động sản.

Trường hợp có sự thay đổi tên, địa chỉ trụ sở, người đại diện theo pháp luật, các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký hoạt động thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, sàn giao dịch bất động sản phải có văn bản gửi cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh nơi sàn giao dịch bất động sản đăng ký thành lập và hoạt động để được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động. Cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh báo cáo về Bộ Xây dựng để quản lý và đăng tải thông tin.

Về điều kiện hoạt động của sàn giao dịch bất động sản, Nghị định nêu rõ, sàn giao dịch bất động sản hoạt động phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản phải chịu trách nhiệm về hoạt động của sàn giao dịch bất động sản. Người đại diện theo pháp luật của sàn giao dịch bất động sản có thể đồng thời là người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản. Sàn giao dịch bất động sản phải có tên, địa chỉ giao dịch ổn định trên 12 tháng và trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu theo nội dung hoạt động của sàn giao dịch bất động sản. Sàn giao dịch bất động sản có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng chống rửa tiền, báo cáo về phòng chống rửa tiền theo quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền.

Theo Nghị định, sàn giao dịch bất động sản hoạt động theo nội dung quy định tại Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản. Việc xác nhận các giao dịch bất động sản thực hiện như sau: Các giao dịch bất động sản thông qua hình thức trực tiếp thì được xác nhận bằng văn bản. Trường hợp giao dịch bất động sản thông qua hình thức điện tử thì thực hiện việc xác nhận điện tử theo quy định của Luật Giao dịch điện tử, pháp luật về thương mại điện tử và quy định của pháp luật có liên quan. Trong văn bản xác nhận giao dịch bất động sản phải có đủ chữ ký của đại diện doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án hoặc chủ sở hữu của bất động sản, đại diện sàn giao dịch bất động sản, cá nhân môi giới và con dấu của doanh nghiệp tương ứng với các hình thức giao dịch…

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2024.

(TTXVN/Báo Tin tức)

Dành cho bạn

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Để phát huy nguồn lực này, tổ chức Đảng cần khuyến khích làm giàu chính đáng, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích. Mỗi đảng viên phải giữ liêm chính, nêu gương và thực hiện đầy đủ trách nhiệm.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Từ khu dân cư đến khu công nghiệp, việc khuyến khích đảng viên làm kinh tế cần được cụ thể hóa bằng hướng dẫn, thông tin và kết nối hỗ trợ. Khi tổ chức Đảng nắm rõ nhu cầu, cơ quan chuyên môn giải quyết đúng trách nhiệm, người có ý tưởng kinh doanh có cơ hội để bắt đầu.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Muốn làm kinh tế, đảng viên cần vượt qua áp lực thị trường và hiểu rõ quyền, trách nhiệm của mình. Quy định số 224-QĐ/TW của Đảng đang tạo thêm cơ sở phát huy nguồn lực ấy. Để chủ trương này trở thành động lực, đảng cần đồng hành giải đáp vướng mắc, hỗ trợ đúng việc và minh bạch.