09:18 03/09/2026

Xuất khẩu sầu riêng: Có thể truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số

Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ diễn ra chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ đã thực hiện truy xuất nguồn gốc trên hệ thống chuyển đổi số. 

Chú thích ảnh
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp trả lời câu hỏi của phóng viên. Ảnh: Văn Điệp/TTXVN

Theo đó, khách hàng nước ngoài và khách hàng trong nước có thể truy cập được chuỗi các dữ liệu từ khâu trồng trọt, chăm sóc, bón phân… của các loại nông sản trong đó có sầu riêng. “Vì vậy, niềm tin của khách hàng, nhất là khách hàng quốc tế đến từ Mỹ, Trung Quốc đều đánh giá cao”, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết.

Gỡ khó về cấp mã số vùng trồng

Bên cạnh đó, Bộ NN-MT đã tháo gỡ khó khăn trong việc cấp mã số vùng trồng. Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ đã quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói có hiệu lực từ ngày 31/7/2026 được đánh giá là bước cải cách lớn trong công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. 

Cùng đó, theo Thứ trưởng Bộ NN-MT, việc phân cấp ủy quyền mạnh mẽ về địa phương trong cấp mã số vùng trồng của các loại cây trồng trong đó có sầu riêng đã được triển khai, từ đó tháo gỡ khó khăn cho việc trồng xen canh sầu riêng. Đặc biệt, lãnh đạo Bộ đã sang Trung Quốc vào ngày 14/8 để làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc; trong đó, phía bạn đã  đã cấp cho Việt Nam 567 mã vùng trồng sầu riêng, nâng tổng số mã vùng trồng lên hơn 1.800 mã vùng trồng.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, việc xuất khẩu sầu riêng cần chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động các biện pháp để thúc đẩy ngành hàng có giá trị cao này.
Trong 8 tháng qua, xuất khẩu sầu riêng ước đạt 1,95 tỷ USD; trong đó riêng thị trường Trung Quốc đóng góp khoảng 1,85 tỷ USD, chiếm khoảng 95% thị phần xuất khẩu.

Tuy nhiên, xuất khẩu sầu riêng vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Đầu tiên, diện tích trồng sầu riêng tăng trưởng nhanh nhưng chưa gắn với tổ chức chuỗi giá trị. Tại một số địa phương, việc mở rộng còn mang tính tự phát, chưa gắn chặt với điều kiện đất đai, nguồn nước, hạ tầng và khả năng tổ chức vùng nguyên liệu. 

Bên cạnh đó, yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe như: Yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và truy xuất nguồn gốc… đòi hỏi người sản xuất, cơ sở đóng gói, doanh nghiệp xuất khẩu và các chủ thể liên quan phải nâng cao năng lực, tuân thủ quy trình kỹ thuật, kiểm soát chặt các công đoạn từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến đóng gói, xuất khẩu. Cùng đó, việc tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và hỗ trợ xuất khẩu tại một số địa phương chưa đồng bộ. 

Một khó khăn khác theo Bộ NN-MT, công nghệ bảo quản, chế biến còn thiếu đồng bộ, chủ yếu tập trung vào bảo quản lạnh, cấp đông và xuất khẩu quả tươi. Một số cơ sở sử dụng cấp đông nhanh bằng nitơ lỏng hoặc máy ICE COOL, giúp duy trì chất lượng nhưng chi phí cao và chưa phổ biến. Đặc biệt, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nhất là với các nước sản xuất sầu riêng trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines và Campuchia. Thái Lan và Malaysia đang đẩy mạnh phát triển sầu riêng đông lạnh, trong đó Malaysia có lợi thế về giống Musang King; Campuchia mở rộng diện tích vùng trồng gắn với chuẩn hóa sản xuất. 

Trong khi đó, xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc, với khoảng 90% sản lượng xuất khẩu được tiêu thụ tại thị trường này, đặt ra yêu cầu tiếp tục đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ngoài ra, công tác kiểm nghiệm, việc lấy mẫu tại một số lô hàng chưa bảo đảm tính đại diện, nhất là các lô hàng không đồng nhất, có thể ảnh hưởng đến độ chính xác, tin cậy của kết quả kiểm nghiệm và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến việc duy trì công nhận Phòng kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu.

Lấy chất lượng thực phẩm và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng

Để tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi; chủ động đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng, qua đó xây dựng ngành hàng nông sản phát triển ổn định, minh bạch, Bộ NN-MT đã cử các đoàn công tác làm việc trực tiếp với các địa phương, đặc biệt những vùng trồng có giá trị cao như ở Tây Nguyên, Đồng Nai, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ để tháo gỡ khó khăn vướng mắc. 

Giải pháp tiếp theo, chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Cụ thể, Bộ tổ chức sản xuất theo quy trình an toàn, kiểm soát chặt vật tư đầu vào và các nguy cơ về dư lượng; tăng cường giám sát an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, cảnh báo sớm nguy cơ vi phạm; hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc từ vùng trồng, cơ sở đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu.

Cùng đó là  phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics, trong đó khuyến khích đầu tư kho lạnh, sơ chế, bảo quản và chế biến tại vùng sản xuất tập trung; đẩy mạnh chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển; ứng dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, đồng thời nâng cấp hạ tầng thủy lợi, giao thông phục vụ vùng nguyên liệu.

Ngoài ra, Bộ tiếp tục mở rộng, củng cố và nâng cao năng lực hệ thống phòng kiểm nghiệm, tiếp tục xã hội hóa, mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện; ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm, nhất là đối với hàm lượng Cadimi, Vàng O và các chỉ tiêu theo yêu cầu thị trường nhập khẩu; hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, phương pháp kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu.
 
Đồng thời, Bộ NN-MT sẽ tiếp tục tập trung chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh số hóa, rút ngắn thời gian và nâng cao độ tin cậy kết quả kiểm nghiệm; tổ chức hoạt động linh hoạt theo mùa vụ, công khai quy trình, thời gian, chi phí và tăng cường đào tạo, cập nhật kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế cho đội ngũ kiểm nghiệm viên và cán bộ quản lý

Để đưa kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm 2026 đạt khoảng 4 tỷ USD thời gian tới, Bộ tiếp tục tập trung nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng, nâng cao giá trị và bền vững.

Cụ thể, Bộ NN-MT đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; trong đó tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường và tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng (Ấn Độ, Australia, New Zealand…); đẩy mạnh xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến sang các thị trường phù hợp. 

Bên cạnh đó, giải pháp quan trọng, tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, trong đó rà soát, quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu và hạ tầng; phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xuất khẩu; củng cố liên kết nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu và từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.

Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc