05:11 08/05/2026

Việt Nam tăng sức hút dòng vốn FDI trong giai đoạn mới

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực, điều này có ý nghĩa trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, việc duy trì được sức hút với dòng vốn ngoại cho thấy nền tảng ổn định của môi trường đầu tư Việt Nam.

Chú thích ảnh
Dây chuyền sản xuất mô đun camera và linh kiện điện tử xuất khẩu tại nhà máy của Công ty TNHH MCNEX VINA (100% vốn Hàn Quốc), khu công nghiệp Phúc Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Theo thống kê của Bộ Tài chính, hiện Việt Nam có 46.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 545 tỷ USD. Vốn FDI thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt khoảng trên 357 tỷ USD, bằng khoảng 65,6% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. 

Riêng trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2025. Vốn thực hiện ước đạt trên 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, đây là mức giải ngân cao nhất của 4 tháng đầu năm trong vòng 5 năm qua, cho thấy các dự án FDI không chỉ đăng ký mà còn được triển khai tương đối hiệu quả.

Đánh giá về kết qủa thu hút FDI những tháng đầu năm, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng: Xu hướng thu hút FDI của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tích cực, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng mạnh so với cùng kỳ, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư quốc tế đối với môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam được củng cố vững chắc.

Ở góc độ quản lý, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cũng nhận định, trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, chính sách thương mại còn biến động, rủi ro địa chính trị kéo dài và xu hướng phân mảnh kinh tế ngày càng rõ nét, những yếu tố này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất và dịch chuyển dòng vốn của các tập đoàn đa quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn ghi nhận kết quả thu hút đầu tư tích cực, cho thấy khả năng thích ứng và sức hấp dẫn tương đối bền vững.

Một điểm đáng chú ý là chất lượng dòng vốn đang có xu hướng cải thiện. Vốn thực hiện tăng 9,8% cho thấy các dự án hiện hữu đang được triển khai ổn định, tiến độ giải ngân được duy trì, qua đó phản ánh niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, có 1.249 dự án FDI mới được cấp phép, với số vốn đăng ký đạt 12,15 tỷ USD, tăng 3,7% về số dự án và gấp 2,2 lần về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn nằm trong “tầm ngắm” của các nhà đầu tư trong chiến lược dịch chuyển và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Hoạt động góp vốn, mua cổ phần cũng ghi nhận sự sôi động, đây là tín hiệu cho thấy nhà đầu tư nước ngoài không chỉ quan tâm đến các dự án mới mà còn chủ động tìm kiếm cơ hội tham gia sâu hơn vào thị trường thông qua các doanh nghiệp đang hoạt động.

Đáng chú ý, dòng vốn FDI vào Việt Nam đang có xu hướng tập trung vào các dự án công nghệ cao, quy mô lớn. Điều này phù hợp với định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ nền tảng, giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Đây cũng chính là yếu tố then chốt để nâng cao “chất” của dòng vốn FDI trong giai đoạn tới.

Những tín hiệu tích cực từ dòng vốn FDI đang củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đối với môi trường đầu tư Việt Nam. Ông Kim In Woo, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KoCham) cho biết, tính đến tháng 2/2026 tổng vốn đầu tư lũy kế của Hàn Quốc vào Việt Nam đã đạt 95,23 tỷ USD, với 10.425 dự án. Việt Nam đang sở hữu những lợi thế rõ rệt với nền kinh tế mở, nền tảng sản xuất vững chắc và tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc, Việt Nam không chỉ là cứ điểm sản xuất và xuất khẩu, mà còn là thị trường mang ý nghĩa chiến lược trong trung và dài hạn.

Ở một góc nhìn khác, ông Tôn Phong Lôi, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam cho biết, hiện có hơn 10.000 doanh nghiệp Trung Quốc đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó trên 400 doanh nghiệp niêm yết. Điều này cho thấy quy mô và mức độ hiện diện ngày càng lớn của cộng đồng doanh nghiệp Trung Quốc tại thị trường Việt Nam. Đáng chú ý, các doanh nghiệp này đang đẩy mạnh kế hoạch chuyển đổi, nâng cấp và mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ cao như điện tử thông tin, năng lượng mới, trí tuệ nhân tạo, thay thế dần các ngành thâm dụng lao động truyền thống.

Trong khi đó, ông Torben Minko, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cho biết, EuroCham hiện có 1.500 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Các doanh nghiệp châu Âu đang hoạt động tại đây có độ tự tin rất cao, đây là chỉ tiêu quan trọng cho thấy Việt Nam là thị trường lý tưởng để tiếp tục mở rộng đầu tư.

Mặc dù đánh giá cao môi trường đầu tư Việt Nam, song theo ông Kim In Woo, môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay vẫn cần tiếp tục cải thiện để đáp ứng yêu cầu mới. Trong đó, năng lực sản xuất cần được nâng cao song song với năng lực công nghệ và mức độ liên kết công nghiệp. Đây là những yếu tố quan trọng để giữ chân và thu hút các dự án có chất lượng cao.

Bên cạnh đó, tính dự báo của chính sách và sự nhất quán trong thực thi hành chính ngày càng trở nên quan trọng. Các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến ưu đãi, mà còn đặc biệt chú trọng đến khả năng vận hành ổn định trong một môi trường pháp lý minh bạch, nhất quán và có thể dự đoán được trong dài hạn. Do đó, việc cải thiện tốc độ xử lý thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và thống nhất trong áp dụng chính sách sẽ là những yếu tố then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ông Torben Minko cho rằng, chuyển đổi xanh và ESG đang trở thành yêu cầu bắt buộc. Theo đó, để tăng sức hấp dẫn trong bối cảnh mới, Việt Nam cần lồng ghép các yếu tố này vào hoạt động của doanh nghiệp, qua đó đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư quốc tế.

Trong khi đó, ông Nguyễn Đức Hiển cũng chỉ ra những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả của khu vực FDI, như liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; tỷ lệ nội địa hóa thấp; năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế; hàm lượng nghiên cứu và phát triển chưa cao; cùng với đó là những rào cản về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Nếu không xử lý hiệu quả những vấn đề này, hiệu quả hợp tác FDI sẽ bị suy giảm, đồng thời hạn chế khả năng lan tỏa và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Cùng quan điểm, TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam cho rằng: Để xây dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn, minh bạch và ổn định, đồng thời nâng cao chất lượng thu hút FDI trong giai đoạn tới, chính quyền các địa phương cần tiếp tục triển khai các giải pháp một cách quyết liệt và đồng bộ, trước hết là tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ, đặc biệt là các lĩnh vực có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao.

Song song với đó, cần định hướng thu hút đầu tư theo hướng tăng cường hình thức liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất, học hỏi công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và từng bước phát triển năng lực công nghệ nội tại.

Thúy Hiền (TTXVN)