05:06 02/05/2026

Văn hóa truyền thống - lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế sáng tạo

Công nghệ số đang tạo ra một cuộc cách mạng trong văn hóa khi không ngừng tạo ra những hình thức văn hóa mới và cá nhân hóa sáng tạo theo cách chưa từng có.

Chú thích ảnh
Đoàn nghi lễ khởi hành lên núi Nghĩa Lĩnh, nơi thờ tự các Vua Hùng (tỉnh Phú Thọ). Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN

Trong dòng chảy toàn cầu đó, văn hóa truyền thống được hiện diện như nền tảng cho những sáng tạo đương đại, những giá trị cốt lõi để văn hóa dân tộc phát triển thành một nền văn hóa số vừa bản sắc, hiện đại, vừa hấp dẫn, cạnh tranh.

Văn hóa là nguồn lực phát triển bền vững

Hơn 4000 năm lịch sử đã để lại cho dân tộc Việt Nam một kho tàng văn hóa vô cùng giàu có, vừa độc đáo, đặc sắc, vừa hội tụ đầy đủ các đặc trưng của khu vực do sự giao thoa văn hóa lâu đời. Các di sản văn hóa không chỉ làm phong phú đời sống tinh thần cho con người và xã hội, mà còn là nguồn lực quý giá để phát triển du lịch theo hướng bền vững.

Hiện nay, trên cả nước có hơn 40.000 di tích lịch sử-văn hóa và gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê, trong đó có 153 Di tích quốc gia đặc biệt ở khắp các tỉnh, thành phố. Có 357 bảo vật quốc gia cùng hàng triệu hiện vật từ hàng nghìn lịch sử năm lưu được giữ tại 194 bảo tàng trên cả nước.

Di sản văn hóa Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm công nhận của thế giới. Riêng năm 2025, Việt Nam có tới 4 di sản được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc UNESCO vinh danh. Hiện Việt Nam có tổng cộng 36 di sản mang tầm quốc tế, bao gồm 9 di sản thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể, 10 di sản tư liệu thế giới và khu vực.

Chú thích ảnh
Du khách quốc tế tham quan phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN

Những năm gần đây, Việt Nam ngày càng coi trọng nguồn lực di sản và xem di sản văn hóa nói riêng và văn hóa nói chung là một loại tài nguyên, có thể là động lực, chất xúc tác cho phát triển bền vững. Tận dụng các lợi thế của mình, Việt Nam đã và đang khai thác các di sản văn hóa vào phục vụ phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Du lịch văn hóa hiện là loại hình chủ đạo, chiếm khoảng 70% tổng lượng khách du lịch quốc gia, khẳng định vai trò cốt lõi trong cơ cấu sản phẩm du lịch Việt Nam. Việt Nam cũng nổi lên như một điểm sáng của du lịch di sản nhờ khai thác sâu giá trị di sản và văn hóa bản địa. Theo Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism), năm 2025, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất thế giới, đạt khoảng 21%, vượt xa mức bình quân toàn cầu (5%) và khu vực châu Á-Thái Bình Dương (8%). Con số ấn tượng này không chỉ phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của ngành du lịch sau đại dịch, mà còn cho thấy hiệu quả của việc lựa chọn hướng đi dựa trên nền tảng văn hóa và di sản. Điều này cũng phù hợp với xu hướng du lịch hiện nay, khi các giá trị văn hóa-lịch sử ngày càng được du khách ưu tiên khi lựa chọn điểm đến, với khoảng 40% khách du lịch quốc tế chọn các địa điểm là di sản hoặc có yếu tố văn hóa-lịch sử làm lý do chính cho chuyến đi của mình.

Chú thích ảnh
Lễ mừng nhà Rông mới được bà con thôn Kon Rơ Bang (Quảng Ngãi). Ảnh tư liệu - minh họa: Dư Toán/TTXVN

Văn hóa là lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế sáng tạo

Văn hóa mang lại giá trị kinh tế, nhưng quan trọng hơn, khi công nghệ xóa nhòa sự khác biệt thì những giá trị “độc bản” của văn hóa càng trở quan trọng, như nhận định của UNESCO: “tính xác thực văn hóa” (cultural authenticity) sẽ là lợi thế cạnh tranh thực chất trong kinh tế sáng tạo toàn cầu. 
Những đặc trưng của kiến trúc, của văn hoá, nghệ thuật, ẩm thực, trang phục… là những giá trị “độc bản” của văn hóa Việt Nam, góp phần định vị nền văn hóa dân tộc giữa “biển” văn hóa nhân loại. Từ những giá trị văn hóa truyền thống đó, nhiều sản phẩm sáng tạo đã ra đời, là minh chứng cho năng lực cạnh tranh “độc quyền” của văn hóa Việt Nam với quốc tế. Đó là những bộ phim điện ảnh hay sản phẩm âm nhạc khai thác đề tài lịch sử, dân gian, văn hóa địa phương; những sản phẩm sáng tạo phái sinh như thiết kế đồ họa, thời trang, game online… lấy cảm hứng từ các sản phẩm văn hóa truyền thống; là các mô hình du lịch như "Đêm Hội An", "Hội quán Phúc Kiến", trải nghiệm làng nghề truyền thống đang ngày càng thu hút khách quốc tế… Ở đó, truyền thống dân tộc chính là nguồn cảm hứng, là kho tài nguyên vô tận cho các sáng tạo đương đại. Ở nơi truyền thống và hiện đại gặp gỡ, giao thoa đã tạo ra các sản phẩm của thời đại mới, mang ký ức của tập thể, chứa đựng các giá trị thẩm mỹ, đạo đức, văn hóa, tinh hoa của người Việt, được cộng đồng tiếp nhận và đánh giá cao. 

Có thể nói, dù cho công nghệ có đưa chúng ta tiến xa đến mức nào, thì văn hóa truyền thống vẫn luôn là nền tảng không thể thay thế. Nó tạo ra bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, là “cái neo” giữ cho mỗi dân tộc không bị hòa tan trong thế giới phẳng. Chính vì thế, việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa là nhiệm vụ quan trọng và luôn có tính cấp thiết.

Chú thích ảnh
Các nghệ sĩ trình diễn hát Then tại gian trưng bày Nghệ thuật biểu diễn, khu triển lãm 12 ngành công nghiệp văn hóa tại Triển lãm thành tựu đất nước với chủ đề “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Ảnh: Phương Lan/TTXVN

Số hóa các di sản truyền thống

Trong nhiều thập kỷ, văn hóa Việt Nam được định hình chủ yếu trong không gian vật lý: di sản, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, bảo tàng, thư viện... Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ, một không gian văn hóa mới đã hình thành - không gian văn hóa số - nơi các giá trị văn hóa được số hóa, lan tỏa và tái tạo dưới những hình thức hoàn toàn khác. 

Công tác số hóa di sản văn hóa đã được triển khai ở nhiều địa phương, đơn vị. Nhiều bảo tàng, thư viện đã xây dựng cơ sở dữ liệu số, phát triển các hình thức trưng bày trực tuyến, ứng dụng công nghệ 3D, thực tế ảo để tái hiện không gian văn hóa, vừa góp phần bảo tồn di sản một cách bền vững, vừa mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Chú thích ảnh
Du khách quét QR để tìm hiểu thông tin tại Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nằm trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thuộc xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh An Giang. Ảnh: Công Mạo/TTXVN

Trong lĩnh vực nghệ thuật và sáng tạo, môi trường số đã tạo ra không gian phát triển mới khi các sản phẩm âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật, nội dung số… được sản xuất, phân phối trên các nền tảng trực tuyến, từng bước hình thành thị trường nội dung số với sự tham gia của nhiều chủ thể. Một số sản phẩm văn hóa số của Việt Nam đã bước đầu tiếp cận thị trường quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước. Lĩnh vực báo chí, truyền thông cũng chuyển mạnh sang nền tảng số, đa dạng hóa hình thức thể hiện, mở rộng phạm vi tiếp cận công chúng. Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến các loại hình văn hóa phi vật thể, quá trình số hóa đang mở ra một hướng đi mới: vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội. Trên nhiều phương diện, chuyển đổi số đang từng bước làm thay đổi cách thức bảo tồn, sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Số hóa di sản không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu, góp phần giúp di sản thực sự “sống” trong đời sống hiện đại. 

Chú thích ảnh
Du khách quét QR tìm hiểu thông tin về đền Gin, xã Nam Minh (Ninh Bình). Ảnh: Nguyễn Lành/TTXVN

Ngày 2/12/2021, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Số hóa không chỉ hữu ích trong công tác bảo tồn, tạo kho tàng lưu giữ thông tin chi tiết về các giá trị vật thể và phi vật thể mà còn tạo nền tảng khai thác tối đa tiềm năng của di sản trong công nghiệp văn hóa. 

Đặc biệt, Nghị quyết số 80- NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, mở ra một chương mới trong tư duy chiến lược của Đảng, đưa văn hóa trở thành "hệ điều tiết" cho sự phát triển bền vững. Bản sắc văn hóa Việt Nam và sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớn của đất nước trong phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Thu Hạnh (TTXVN)