08:09 01/08/2026

Vai trò quyết định của địa chính trị trong nền kinh tế toàn cầu

Nửa đầu năm 2026 đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với thương mại toàn cầu. Những nguyên tắc từng chi phối các dòng chảy hàng hóa quốc tế trong nhiều thập niên đang chịu sức ép mạnh mẽ khi các quốc gia ngày càng coi thương mại, năng lượng và chuỗi cung ứng như những công cụ cạnh tranh chiến lược.

Từ quyết định áp thuế mới của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump, sự thay đổi trong chính sách nhập khẩu năng lượng của Ấn Độ, cho tới những căng thẳng tại Trung Đông vốn đang đe dọa các tuyến vận tải huyết mạch, nền kinh tế thế giới đang bước vào một giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng, trong đó yếu tố địa chính trị ngày càng đóng vai trò quyết định.

Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến thuế quan

Chú thích ảnh
Quang cảnh cảng hàng hóa tại Los Angeles, California, Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN

Tâm chấn đầu tiên của những biến động thương mại năm 2026 đến từ Washington. Tháng 2/2026, Tổng thống Trump đã quyết định nâng mức thuế quan chung mới của Mỹ từ 10% lên 15%, tạo cú sốc đối với các thị trường tài chính và các đối tác thương mại lớn của Mỹ. Đây được xem là bước leo thang mới trong chiến lược bảo hộ thương mại của Chính quyền Trump, với mục tiêu đưa sản xuất trở lại nước Mỹ, bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và giảm sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu.

Không dừng lại ở những biện pháp thuế quan truyền thống, Washington còn mở rộng phạm vi kiểm soát sang các lĩnh vực được coi là có ý nghĩa chiến lược như chất bán dẫn, công nghệ cao, khoáng sản quan trọng và các nguyên liệu phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng.

Theo lập luận của chính quyền Mỹ, những biện pháp này nhằm bảo vệ an ninh kinh tế và công nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, đối với nhiều đối tác thương mại, đây là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang chuyển từ chính sách tự do hóa thương mại sang mô hình “chủ nghĩa bảo hộ chiến lược”.

Hệ quả là các nền kinh tế lớn, từ châu Âu đến châu Á, buộc phải đánh giá lại mô hình sản xuất và chuỗi cung ứng của mình. Các doanh nghiệp không còn chỉ quan tâm tới yếu tố chi phí thấp, mà ngày càng chú trọng tới mức độ an toàn, khả năng kiểm soát nguồn cung và rủi ro chính trị.

Trong nhiều thập niên, toàn cầu hóa được xây dựng dựa trên nguyên tắc chuyên môn hóa: sản xuất được đặt ở nơi có chi phí thấp nhất, còn thương mại quốc tế đảm nhiệm vai trò kết nối các nền kinh tế. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng liên tiếp trong những năm gần đây, từ đại dịch COVID-19, cuộc xung đột Nga-Ukraine cho tới cạnh tranh Mỹ-Trung, đã làm thay đổi cách nhìn của các chính phủ.

Chú thích ảnh
Robot lắp ráp linh kiện trong phân xưởng tại nhà máy ô tô liên doanh Đức - Trung Quốc FAW-Volkswagen ở Thiên Tân, Trung Quốc. Ảnh: THX/TTXVN

An ninh chuỗi cung ứng giờ đây được đặt ngang hàng với hiệu quả kinh tế. Các quốc gia không chỉ tìm cách nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn mà còn muốn bảo đảm rằng họ có thể tiếp cận các nguồn nguyên liệu, linh kiện và công nghệ quan trọng ngay cả trong những thời điểm khủng hoảng.

Xu hướng “giảm rủi ro” (de-risking), đa dạng hóa nguồn cung và đưa sản xuất trở về gần thị trường tiêu thụ đang trở thành ưu tiên của nhiều nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này cũng kéo theo nguy cơ làm thương mại thế giới trở nên phân mảnh hơn, với sự xuất hiện của nhiều “khối kinh tế” cạnh tranh thay vì một thị trường toàn cầu thống nhất.

Bên cạnh thương mại hàng hóa, thị trường năng lượng cũng chứng kiến những thay đổi quan trọng trong năm 2026. Sau nhiều năm trở thành một trong những khách hàng lớn nhất của dầu thô Nga với mức giá ưu đãi, Ấn Độ bắt đầu điều chỉnh chính sách năng lượng của mình, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung từ Moskva.

Quyết định này chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có sức ép từ các lệnh trừng phạt thứ cấp của Mỹ và sự thay đổi trong chiến lược năng lượng của New Delhi. Ấn Độ đang tìm kiếm các nguồn cung thay thế từ Trung Đông và châu Mỹ nhằm bảo đảm an ninh năng lượng lâu dài. Sự chuyển hướng này không chỉ tác động tới quan hệ năng lượng Nga-Ấn mà còn có thể làm thay đổi cán cân trên thị trường dầu mỏ quốc tế.

Đối với Nga, sự thu hẹp thị trường tiêu thụ tại Ấn Độ là một thách thức lớn khi xuất khẩu năng lượng vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước này. Trong khi đó, các quốc gia xuất khẩu dầu khác có cơ hội mở rộng ảnh hưởng tại thị trường châu Á.

Trung Đông - điểm yếu mới 

Chú thích ảnh
Tàu di chuyển qua eo biển Hormuz. Ảnh: THX/TTXVN phát

Nếu thuế quan tạo ra những rào cản trên đất liền, thì căng thẳng tại Trung Đông lại đặt ra những rủi ro trên các tuyến đường biển và hạ tầng năng lượng. Khu vực vùng Vịnh từ lâu là một trong những trung tâm quan trọng nhất của kinh tế thế giới, cung cấp phần lớn nguồn năng lượng toàn cầu và kiểm soát các tuyến hàng hải chiến lược.

Trong năm 2026, nguy cơ các cơ sở hạ tầng quan trọng như nhà máy năng lượng, hệ thống khử mặn nước biển và các tuyến vận tải biển bị tấn công đã làm dấy lên lo ngại về khả năng gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế.

Các quốc gia vùng Vịnh đang tăng tốc đầu tư vào khả năng bảo vệ hạ tầng chiến lược, củng cố năng lực quốc phòng và nâng cao khả năng tự chủ kinh tế. Những diễn biến này cho thấy an ninh thương mại ngày nay không thể tách rời khỏi an ninh năng lượng, an ninh hàng hải và ổn định chính trị khu vực.

Những biến động trong nửa đầu năm 2026 cho thấy thương mại toàn cầu đang bước vào một giai đoạn mới, nơi các quyết định kinh tế ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tính toán địa chính trị. Thuế quan, kiểm soát xuất khẩu, chính sách công nghiệp và chiến lược năng lượng đang trở thành những công cụ cạnh tranh giữa các quốc gia.

Đối với doanh nghiệp, thời kỳ chỉ tối ưu hóa chi phí sản xuất dường như đang kết thúc. Các tập đoàn quốc tế buộc phải xây dựng những chuỗi cung ứng linh hoạt hơn, chấp nhận chi phí cao hơn để đổi lấy sự ổn định và khả năng chống chịu trước các cú sốc.

Trong bối cảnh đó, năm 2026 có thể được xem là một năm bản lề, khi thế giới chuyển từ mô hình toàn cầu hóa dựa trên hiệu quả kinh tế sang mô hình toàn cầu hóa dựa trên an ninh, khả năng tự chủ và cạnh tranh chiến lược.

Thách thức lớn nhất trong thời gian tới là liệu các nền kinh tế có thể tìm được sự cân bằng giữa bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì một hệ thống thương mại quốc tế mở hay không. Bởi nếu cuộc chạy đua bảo hộ tiếp tục leo thang, cái giá phải trả không chỉ là chi phí thương mại cao hơn, mà còn có thể là sự suy giảm của tăng trưởng toàn cầu.

Đào Dũng (TTXVN)