06:09 08/06/2026

Từng bước đưa Việt Nam trở thành trung tâm y sinh của khu vực

Công nghệ sinh học đang được xác định là một trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược, có khả năng tạo đột phá cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, giới chuyên gia cho rằng cần sớm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 21/4/2026 là bước đi kịp thời nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, đồng thời cụ thể hóa các mục tiêu đã được đặt ra tại Nghị quyết số 36-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Khoảng cách lớn giữa tiềm năng và thực lực

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho rằng: Khoảng cách rất lớn giữa thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam và thế giới phản ánh sự khác biệt về trình độ khoa học - công nghệ, năng lực thương mại hóa và mức độ đầu tư.

Hiện nay, thị trường công nghệ sinh học toàn cầu năm 2025 được ước tính khoảng 1.800 tỉ USD và phần lớn giá trị đang tập trung ở các phân khúc công nghệ rất cao. Trong đó, khoảng 45 - 50%, tương đương khoảng 800 - 900 tỉ USD, nằm ở lĩnh vực dược sinh học và thuốc sinh học; khoảng 15 - 20%, tương đương 270 - 360 tỉ USD, đến từ sinh phẩm và vật tư tiêu hao phục vụ nghiên cứu, chẩn đoán phân tử, giải trình tự gen và y học chính xác; khoảng 10 - 15% là công nghệ sinh học nông nghiệp; còn các công nghệ tế bào gốc, liệu pháp gen và y học tái tạo hiện chiếm khoảng 5 - 10%, tương đương 90 - 180 tỉ USD nhưng lại là nhóm tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Điều đó cho thấy phần lớn giá trị của thị trường hiện nay nằm ở những công nghệ lõi có hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng rất cao.

Chú thích ảnh
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Các quốc gia dẫn đầu như Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã đầu tư liên tục hàng chục năm để xây dựng hệ sinh thái công nghệ sinh học hoàn chỉnh, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng cho đến thương mại hóa sản phẩm. Họ sở hữu các trung tâm nghiên cứu hiện đại, hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế, các cơ sở nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng quy mô lớn, cùng các doanh nghiệp công nghệ sinh học có khả năng đưa sản phẩm ra thị trường toàn cầu. Riêng Mỹ hiện chiếm khoảng 40 - 45% thị trường của thế giới nhờ dẫn đầu về thuốc sinh học, vaccine mRNA, liệu pháp gen và liệu pháp tế bào.

Trong khi đó, mặc dù GDP của Việt Nam hiện đã đạt khoảng 500 tỉ USD, thuộc nhóm nền kinh tế có quy mô khá lớn tại Đông Nam Á, nhưng thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam mới chỉ vào khoảng 1,5 tỉ USD. Con số này không chỉ chiếm chưa đến 0,1% thị trường công nghệ sinh học toàn cầu mà còn mới đóng góp khoảng 0,2 - 0,3% GDP quốc gia, cho thấy công nghệ sinh học của Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và quy mô nền kinh tế. Chúng ta hiện chủ yếu tham gia ở các lĩnh vực như vaccine truyền thống, vaccine thú y, vi sinh, sinh phẩm chẩn đoán cơ bản và nông nghiệp sinh học; chưa có nhiều sản phẩm công nghệ cao như thuốc sinh học thế hệ mới, liệu pháp gen hay liệu pháp tế bào được thương mại hóa.

Một hạn chế rất lớn của Việt Nam là đầu tư cho công nghệ sinh học vẫn chưa thực sự bài bản và đồng bộ. Việt Nam còn thiếu các trung tâm nghiên cứu quy mô lớn, thiếu hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại đạt chuẩn GLP, GMP, thiếu các trung tâm nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, cũng như thiếu các cơ sở sản xuất thử nghiệm để chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại.

Một nguyên nhân rất quan trọng khác là hành lang pháp lý và cơ chế quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ. Nhiều công nghệ tiên tiến như chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào, liệu pháp gen hay y học tái tạo hiện vẫn chưa có cơ chế cấp phép đầy đủ hoặc chưa có mô hình phù hợp để triển khai thử nghiệm tại Việt Nam.

Trong khi đó, ở nhiều nước phát triển, các công nghệ này đã được thương mại hóa và tạo ra thị trường hàng chục đến hàng trăm tỉ USD. Điều này cũng dẫn tới tình trạng “chảy máu ngoại tệ” trong lĩnh vực y tế. Mỗi năm có hàng chục nghìn người Việt ra nước ngoài chữa bệnh tại Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Thái Lan để tiếp cận các công nghệ điều trị tiên tiến như liệu pháp tế bào, điều trị miễn dịch, y học chính xác hay các thuốc sinh học thế hệ mới mà trong nước chưa được cấp phép hoặc chưa đủ điều kiện triển khai rộng rãi.

Nếu so với các nước trong khu vực Đông Nam Á thì khoảng cách cũng khá rõ. Singapore hiện có thị trường công nghệ sinh học lớn hơn Việt Nam khoảng 10 - 15 lần dù dân số nhỏ hơn rất nhiều, nhờ đầu tư mạnh vào R&D và xây dựng trung tâm y sinh khu vực. Thái Lan cũng phát triển nhanh nhờ kết hợp công nghệ sinh học với y tế chất lượng cao và du lịch chữa bệnh.

"Tôi cho rằng Việt Nam có tiềm năng rất lớn để bứt phá. Với dân số hơn 100 triệu người và khoảng 20 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm, nếu có chiến lược đầu tư đủ mạnh cho hạ tầng nghiên cứu, trung tâm tiền lâm sàng - lâm sàng hiện đại, doanh nghiệp công nghệ sinh học và cơ chế pháp lý linh hoạt hơn, thì công nghệ sinh học hoàn toàn có thể trở thành một ngành kinh tế chiến lược trong 10 - 20 năm tới. Khi đó, Việt Nam không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu điều trị trong nước mà còn có thể thu hút du lịch chữa bệnh, từng bước trở thành trung tâm y sinh của khu vực", Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho biết.

Ba điểm nghẽn chính

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, hiện nay, công nghệ sinh học Việt Nam đang gặp ba nhóm “điểm nghẽn” chính. Thứ nhất, là hành lang pháp lý và cơ chế quản lý chưa theo kịp thực tiễn phát triển công nghệ. Nhiều lĩnh vực mới như chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào, liệu pháp miễn dịch, các thuốc sinh học (protein tái tổ hợp, kháng thể tái tổ hợp…), y học tái tạo hay sinh học tổng hợp vẫn thiếu quy định cụ thể để triển khai nghiên cứu và thương mại hóa.

Chú thích ảnh
Một trung tâm nghiên cứu y sinh tại Việt Nam.

Thứ hai, là hạn chế về hạ tầng nghiên cứu và sản xuất đạt chuẩn quốc tế. Việt Nam còn thiếu các trung tâm nghiên cứu tiền lâm sàng, phòng thí nghiệm trọng điểm đạt chuẩn GLP, cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP phục vụ phát triển thuốc, vaccine và các sản phẩm sinh học công nghệ cao.

Thứ ba là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu doanh nghiệp nội địa đủ năng lực làm chủ công nghệ lõi. Nhiều kết quả nghiên cứu vẫn dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa chuyển hóa thành sản phẩm thương mại có sức cạnh tranh.

"Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, theo tôi cần tập trung vào ba nhóm giải pháp lớn: Hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với xu hướng công nghệ mới của thế giới; Đầu tư trọng điểm cho hạ tầng nghiên cứu, đặc biệt là các phòng thí nghiệm tiêu chuẩn GLP và hệ thống sản xuất thử nghiệm đạt chuẩn GMP; Có cơ chế đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận, giải mã, làm chủ công nghệ, giữ được lợi ích và năng lực sản xuất trong nước, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ nhập khẩu", Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà thông tin.

Lộ trình triển khai

Để đạt được mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, theo tôi, cần xây dựng một lộ trình phát triển bài bản, có trọng tâm, mang tính dài hạn và đặc biệt phải gắn nghiên cứu với thị trường và nhu cầu thực tiễn.

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho rằng: Trước hết, cần ưu tiên đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học đạt chuẩn quốc tế, có khả năng triển khai đồng bộ từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, tiền lâm sàng, lâm sàng cho đến sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm công nghệ cao. Việt Nam hiện còn thiếu các hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại đạt chuẩn GLP, GMP cũng như các trung tâm nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng quy mô lớn. Đây là hạ tầng nền tảng để phát triển các công nghệ sinh học thế hệ mới và thu hút doanh nghiệp đầu tư.

Song song với đó là chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia có khả năng nghiên cứu phát triển, tiếp nhận giải mã, làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh công nghệ sinh học hiện nay đang chuyển mạnh sang mô hình liên ngành, Việt Nam cần chú trọng đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực mới như sinh học phân tử, công nghệ gen, tin sinh học, AI trong y sinh, công nghệ tế bào và y học chính xác.

“Một định hướng rất quan trọng là cần tập trung vào những lĩnh vực có thế mạnh đặc thù của Việt Nam như dược liệu, công nghệ sinh học nông nghiệp nhiệt đới, vaccine thế hệ mới, chế phẩm sinh học, công nghệ vi sinh và y sinh học”, Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà chia sẻ.

Việt Nam sở hữu nguồn đa dạng sinh học thuộc nhóm cao nhất thế giới với hệ sinh thái rừng nhiệt đới, biển và rừng ngập mặn phong phú, tạo nên nguồn tài nguyên vi sinh vật, enzyme và hoạt chất sinh học rất độc đáo. Bên cạnh đó, hơn 5.000 loài dược liệu cùng kho tri thức y học cổ truyền lâu đời là nền tảng quan trọng cho nghiên cứu thuốc mới và các sản phẩm sinh học giá trị cao. Lợi thế về hệ sinh thái biển nhiệt đới và nguồn gen đặc thù của người Việt cũng mở ra tiềm năng lớn cho công nghệ vi sinh, y học chính xác, vaccine và y sinh học phù hợp với điều kiện trong nước. Đây chính là cơ sở để Việt Nam phát triển các hướng công nghệ sinh học mang bản sắc riêng và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Viêt Nam cần có cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp Việt đầu tư vào công nghệ sinh học, làm chủ công nghệ lõi và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước. Công nghệ sinh học là lĩnh vực cần vốn lớn, thời gian dài và rủi ro cao, nên nếu không có chính sách ưu đãi phù hợp về tài chính, thuế, quỹ đầu tư và chuyển giao công nghệ thì rất khó hình thành các doanh nghiệp công nghệ sinh học quy mô lớn.

"Một vấn đề rất quan trọng khác là cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng linh hoạt và tiệm cận quốc tế. Việt Nam cần có cơ chế sandbox cho các công nghệ mới như liệu pháp tế bào, chỉnh sửa gen, y học tái tạo hay y học chính xác, y học cá thể để vừa kiểm soát an toàn, vừa tạo điều kiện cho nghiên cứu và thương mại hóa. Nếu chậm triển khai, chúng ta sẽ tiếp tục đối mặt với tình trạng “chảy máu ngoại tệ” khi người dân phải ra nước ngoài để tiếp cận các công nghệ điều trị tiên tiến", Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho biết.

Bên cạnh đó cũng cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp nhận giải mã công nghệ, nhưng phải theo định hướng làm chủ nên tảng công nghệ lõi và phát triển thị trường trong nước. Mục tiêu không chỉ là gia công hay tiếp nhận công nghệ, mà phải từng bước xây dựng được các sản phẩm và doanh nghiệp công nghệ sinh học mang thương hiệu Việt Nam có khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Đầu tư công nghệ chiến lược

Trong thời gian tới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định sẽ tập trung phát triển những lĩnh vực công nghệ sinh học có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, gắn với nhu cầu thực tiễn của đất nước và xu hướng công nghệ chiến lược.

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho biết: Trước hết, Viện Hàn lâm sẽ ưu tiên các lĩnh vực có khả năng nhanh chóng tạo ra sản phẩm phục vụ thị trường như chế phẩm vi sinh sinh học, vaccine thế hệ mới, sinh phẩm chẩn đoán và các sản phẩm y sinh phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đây là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu rất lớn và cũng có nhiều tiềm năng phát triển doanh nghiệp nội địa.

Bên cạnh đó, các công nghệ nền tảng như công nghệ Omics, sinh học hệ thống, trí tuệ nhân tạo trong sinh học, chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào, sinh học tổng hợp và y học chính xác sẽ được đầu tư theo hướng dài hạn nhằm tạo đột phá về năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi.

Viện Hàn lâm cũng xác định cần đầu tư mạnh cho các trung tâm nghiên cứu hiện đại, hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế, các cơ sở nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng, cũng như hạ tầng dữ liệu sinh học và dữ liệu gen người Việt. Ngoài ra, Việt Nam có lợi thế rất lớn về đa dạng sinh học và nguồn dược liệu bản địa. Vì vậy, Viện Hàn lâm xác định cần khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên đặc hữu ví dụ như Sâm Ngọc Linh để tạo ra các sản phẩm công nghệ sinh học mang thương hiệu quốc gia, có giá trị kinh tế cao và khả năng cạnh tranh quốc tế.

Song song với nghiên cứu cơ bản tập trung cho định hướng phát triển các công nghệ chiến lược, Viện Hàn lâm cũng sẽ chú trọng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp, theo chuẩn quốc tế nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ với nhu cầu của các địa phương góp phần đưa công nghệ sinh học thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc