03:12 04/03/2026

Từ Nghị quyết 80-NQ/TW đến sứ mệnh 'gìn giữ để trao truyền' ký ức dân tộc

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Trong bối cảnh chuyển đổi số được Đại hội XIV của Đảng xác định là động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới và phương thức phát triển mới, việc xây dựng chiến lược phát huy giá trị tài liệu lưu trữ cần được đặt trong chỉnh thể chiến lược phát triển văn hóa quốc gia, đồng thời gắn với phát triển hạ tầng dữ liệu, dịch vụ số và các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên nội dung số.

Chú thích ảnh
Đông đảo du khách chờ được tặng chữ thư pháp đầu xuân. Ảnh: Chu Thanh Vân/TTXVN

Nhân dịp Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) chính thức mở cửa tự do “Không gian giới thiệu Di sản tư liệu thế giới của Việt Nam và tài liệu lưu trữ quốc gia tiêu biểu”, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Thanh Tùng, Cục trưởng, về những nỗ lực cụ thể nhằm đưa Nghị quyết 80 vào cuộc sống.

Nghị quyết 80 - “thước đo” hiệu quả phát huy giá trị tài liệu lưu trữ

Thưa ông, Nghị quyết 80-NQ/TW được xem là văn kiện mang tính định hướng chiến lược về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Với ngành lưu trữ, ông nhìn nhận ý nghĩa của Nghị quyết này như thế nào?

Nghị quyết 80-NQ/TW không chỉ nhấn mạnh vai trò trụ cột của văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu “đưa văn hóa đi trước soi đường”, thấm sâu vào chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Những yêu cầu này đặt ra một hệ luận quan trọng: các thiết chế và nguồn lực tạo nên hạ tầng văn hóa - trong đó có hệ thống lưu trữ - phải chuyển từ vai trò hỗ trợ sang vai trò kiến tạo và lan tỏa giá trị.

Lâu nay, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ thường được hiểu theo nghĩa tương đối hẹp: tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ quản lý, nghiên cứu, cấp bản sao, trưng bày, triển lãm, giới thiệu tài liệu lưu trữ. Nhưng từ Luật Lưu trữ năm 2024 đến Nghị quyết 80, “phát huy giá trị” được nâng lên thành một chiến lược văn hóa trong môi trường số.

Bởi tài liệu lưu trữ là bộ phận của ký ức quốc gia, góp phần hình thành bản sắc và hệ giá trị văn hóa; là dữ liệu gốc có tính xác thực cao, có thể chuyển hóa thành sản phẩm văn hóa và học liệu số; và trong không gian số, nếu thiếu cơ chế công bố tư liệu chính thống, tư liệu gốc thì rất dễ tạo ra “khoảng trống nhận thức”, là môi trường cho thông tin giả, xuyên tạc lịch sử.

Bên cạnh đó, yêu cầu chuyển đổi số đặt ra cho lưu trữ một nhiệm vụ kép - vừa bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử (di sản tư liệu), vừa trở thành một cấu phần của hạ tầng dữ liệu phục vụ quản trị hiện đại. Điều này đồng bộ với định hướng của Đại hội XIV về việc lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Đồng thời, Luật Lưu trữ năm 2024 đã xác lập rõ yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ, kết nối chia sẻ và tổ chức sử dụng, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ ở cả lưu trữ hiện hành và lưu trữ lịch sử.

Nghị quyết 80 vì vậy không chỉ là nền tảng tư tưởng chính trị cho chiến lược lưu trữ, mà còn là “thước đo” hiệu quả: lưu trữ phải đóng góp thiết thực vào phát triển văn hóa, nâng cao thụ hưởng văn hóa của nhân dân, củng cố hệ giá trị, phát triển công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm của quốc gia.

Như vậy, có thể hiểu tài liệu lưu trữ không còn chỉ là hồ sơ hành chính hay tài liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu?

Đúng vậy. Trong hệ quy chiếu của Nghị quyết 80, tài liệu lưu trữ phải được tái định vị: không chỉ là nguồn cung cấp thông tin đơn thuần, mà là di sản tư liệu, là “đầu nguồn” để tạo ra các mạch chảy tri thức, ký ức và niềm tin xã hội.

Tài liệu lưu trữ mang nhiều tầng giá trị: thông tin, pháp lý, lịch sử và đặc biệt là giá trị văn hóa – ký ức, bản sắc, truyền thống, chuẩn mực. Nhưng “sức mạnh nội sinh” sẽ không tự hình thành nếu tài liệu chỉ nằm trong kho. Nó chỉ được tạo ra khi ký ức và tri thức lịch sử được lan tỏa có hệ thống, được chuyển hóa thành nội dung giáo dục, sản phẩm văn hóa, học liệu số, trở thành một phần của đời sống tinh thần cộng đồng.

Vì vậy, tư duy phải chuyển từ “có tài liệu” sang “tạo tác động văn hóa từ tài liệu”.

Gìn giữ để trao truyền

Một trong những yêu cầu quan trọng của Nghị quyết 80 là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Theo ông, tài liệu lưu trữ có thể góp phần giáo dục lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ trẻ như thế nào?

Nếu chỉ giữ mà không trao truyền thì chưa đủ. Các nước trên thế giới đều dành một không gian trang trọng để giới thiệu di sản tư liệu của họ. Ở Việt Nam, chúng ta đã làm tốt việc xây kho để giữ. Nhưng nếu chỉ giữ mà giới trẻ - trong nước và quốc tế - không được tiếp cận thì giá trị ấy chưa được lan tỏa.

Chúng tôi xác định đối tượng được trao truyền trước hết là giới trẻ. Khi những “trang giấy còn trắng”, mình đưa lên đó những thông tin chính thống về lịch sử, về truyền thống, thì đó cũng là cách nuôi dưỡng tình yêu đất nước.

Đây không chỉ là câu chuyện văn hóa, mà còn là trách nhiệm xây dựng con người Việt Nam. Không phải chỉ làm cho một đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh, thông minh, mà phải là một người Việt Nam biết yêu nước, biết trân quý truyền thống, biết mình được sinh ra từ một dòng giống anh dũng, không chịu cúi đầu.

Nhưng trong bối cảnh giới trẻ có rất nhiều phương tiện giải trí, làm thế nào để thu hút các em?

Giáo dục lịch sử sẽ trở nên sinh động và thuyết phục hơn rất nhiều khi người học được tiếp cận trực tiếp với nguồn tư liệu gốc. Một văn bản hành chính, một bản đồ cổ, một bức thư tay của lãnh tụ, một sắc phong, hay một châu bản triều Nguyễn… đều là chứng nhân của lịch sử.

Khi học sinh, sinh viên được nhìn thấy những tài liệu ấy - dù là bản gốc hay bản số hóa - các em sẽ cảm nhận rõ hơn tính xác thực, chiều sâu và sự liên tục của lịch sử dân tộc. Đó là điều mà sách giáo khoa khó có thể truyền tải trọn vẹn.

Chuyển đổi số là điều kiện, nhưng không phải mục tiêu cuối cùng. Không phải chỉ số hóa văn bản giấy tờ là xong. Quan trọng hơn là phải tìm ra phương thức phù hợp để giới trẻ tiếp nhận. Thứ nhất là vừa phải trực tiếp, thứ hai là cụ thể, và thứ ba là đáp ứng nhu cầu của công chúng, đặc biệt là của giới trẻ.

Chúng tôi đang đẩy mạnh xây dựng các chương trình tham quan chuyên đề, thiết kế nội dung phù hợp với từng lứa tuổi; phối hợp với giáo viên để lồng ghép tài liệu lưu trữ vào bài giảng. Từ đó, tài liệu không chỉ nằm trong kho, mà trở thành “giáo cụ trực quan” quý giá.

Hiện nay, Cục đang đẩy nhanh tiến độ số hóa các phông tài liệu quý hiếm, đồng thời xây dựng các sản phẩm truyền thông số: triển lãm trực tuyến, video giới thiệu, bài giảng điện tử… Những sản phẩm này không chỉ phục vụ trong nước mà còn giúp bạn bè quốc tế nhìn, nghe và được “chạm” vào nguồn cội, văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi cũng mong rằng giai đoạn tới, với ánh sáng của Nghị quyết 80, cơ quan lưu trữ sẽ có thêm sự quan tâm từ xã hội, của Nhà nước để tiếp tục thực hiện tốt hơn sứ mệnh gìn giữ và trao truyền giá trị văn hóa truyền thống đến thế hệ trẻ. Cùng với Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về chuyển đổi số, thực hiện số hóa, chuyển từ vật mang tin là giấy sang tài liệu điện tử và Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa, ngành lưu trữ như được "chắp thêm cánh", giúp cho việc phát huy giá trị tài liệu tốt hơn nữa.

Mở rộng hợp tác, xây dựng nền tảng số

Việc mở rộng hợp tác với nhà trường được Cục đặt ra như thế nào, thưa ông?

Chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ sở giáo dục, đề xuất với Bộ Nội vụ trao đổi với Bộ Giáo dục và Đào tạo để đưa học liệu lịch sử từ tài liệu lưu trữ vào trường học. Không chỉ là văn bản, mà còn cả phim, clip, website tổng quan về sự kiện lịch sử; triển lãm số; sách điện tử (mobile book) để học sinh có thể đọc ngay trên điện thoại.

Thời gian qua, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia cũng chủ động tổ chức nhiều hoạt động tại trường học ở Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội. Nhưng với định hướng của Nghị quyết 80, cách tiếp cận sẽ bài bản và đồng bộ hơn.

Tài liệu gốc có giá trị rất lớn. Khi học sinh nhìn thấy văn bản gốc, vật mang tin gốc, cách nhìn về lịch sử sẽ khác hẳn so với chỉ đọc một trang sách. Đồng thời, việc công bố thông tin chính thống từ tài liệu lưu trữ cũng là trách nhiệm được quy định trong Luật Lưu trữ năm 2024, nhằm góp phần chống lại các luận điệu sai lệch, thông tin chưa kiểm chứng trên mạng.

Tại sự kiện giới thiệu Không gian Di sản tư liệu, có nhiều đại biểu và học sinh quốc tế tham dự. Vì sao Cục lại chú trọng đến đối tượng này?

Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước có truyền thống hợp tác quốc tế nhiều năm với các cơ quan lưu trữ của Nga, Pháp, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Khi các em học sinh quốc tế được tiếp cận thông tin chính thống về lịch sử, văn hóa Việt Nam, sẽ gia tăng tình cảm với đất nước, con người Việt Nam. Những ký ức tích cực về văn hóa Việt Nam hôm nay sẽ trở thành nguồn lực cho hợp tác quốc tế sau này. Đó cũng là cách hiện thực hóa chủ trương Việt Nam làm bạn với tất cả các nước.

Ông cũng đề cập đến việc xây dựng một nền tảng số quốc gia về văn thư và lưu trữ?

Theo nhiệm vụ được giao, Cục sẽ phối hợp với Bộ Công an xây dựng và vận hành nền tảng số quốc gia về văn thư và lưu trữ, triển khai đến năm 2030. Mục tiêu là tập trung tài liệu lưu trữ, đặc biệt là tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, bảo đảm các nguyên tắc quản trị dữ liệu: đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung.

Khi dữ liệu được tập trung, kiểm chứng, bảo đảm an ninh an toàn thông tin, đó sẽ là nguồn thông tin chính thống phục vụ các lĩnh vực của đời sống xã hội trong kỷ nguyên số.

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, tài liệu quý mà không ai biết thì giá trị cũng khó lan tỏa. Để biến thông tin từ tài liệu thành sức mạnh mềm của dân tộc, cần sự đồng hành của các cơ quan truyền thông, giáo dục và toàn xã hội.

Chúng ta đang làm việc này không chỉ vì tài liệu, không chỉ vì văn hóa, mà vì xây dựng con người Việt Nam. Nếu thế hệ trẻ không được trang bị giá trị truyền thống, thì dù giàu có đến đâu cũng không bảo đảm sự trường tồn của dân tộc.

Nghị quyết 80 giống như mở một tấm rèm. Xã hội nhìn nhận vai trò của thông tin gốc, của văn hóa, của lưu trữ khác đi. Và với nhận thức ấy, ngành lưu trữ phải hành động ngay - không chờ “nhà rộng mới đón khách”, mà sẵn sàng dành không gian tốt nhất của cơ quan hành chính để phục vụ chấn hưng văn hóa, để trao truyền sức mạnh mềm Việt Nam cho xã hội.

Chu Thanh Vân/TTXVN (thực hiện)