07:16 20/07/2026

TS Nguyễn Xuân Dũng: Công nghệ lượng tử góp phần giúp Việt Nam tự chủ nhiều công nghệ chiến lược khác

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn tăng tốc của cuộc cách mạng công nghệ mới, công nghệ lượng tử được đánh giá là một trong những nền tảng có khả năng tạo ra những đột phá mang tính chuyển đổi trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, tài chính, y tế, logistics, năng lượng, vật liệu mới và tối ưu hóa hệ thống quy mô lớn.

Tại Việt Nam, theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ lượng tử được xem là lĩnh vực tiềm năng cao cần được đầu tư phát triển về nghiên cứu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng từng nhấn mạnh phải thống nhất nhận thức công nghệ lượng tử là vấn đề chiến lược quốc gia, không chỉ là vấn đề nghiên cứu khoa học đơn thuẩn.

Trên cơ sở nền tảng đó, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có buổi phỏng vấn chuyên gia về vật lý lượng tử, TS. Nguyễn Xuân Dũng, Viện nghiên cứu khoa học và giáo dục liên ngành (IFIRSE) thuộc Trung tâm ICISE, Gia Lai.

Chú thích ảnh
Sáng 21/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo Trung ương) chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương cho ý kiến về Đề án “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ lượng tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh". Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Thưa ông, để kiến tạo các động lực mới cho tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần làm gì khi không thể dựa vào các động lực truyền thống mà phải tập trung vào đổi mới sáng tạo dựa trên khoa học công nghệ?

Tôi không phải là chuyên gia kinh tế vĩ mô, nên sẽ không thể đưa ra một câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này. Tuy vậy, tôi xin chia sẻ góc nhìn cá nhân về tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với sự phát triển đất nước, cũng như những điều kiện cần thiết để phát triển khoa học công nghệ, dưới con mắt của một người trực tiếp làm nghiên cứu.

Việt Nam hiện đã là nền kinh tế có quy mô GDP đứng khoảng thứ 31-33 thế giới, nhưng GDP bình quân đầu người lại chỉ xếp quanh hạng 118 (các con số này có thể chênh lệch đôi chút tùy nguồn số liệu, song khoảng cách giữa hai thứ hạng thì luôn rất lớn). Thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là bài toán khó của Việt Nam, khi lợi thế nhân công giá rẻ đang thu hẹp dần cùng tốc độ già hóa dân số, còn dư địa tài nguyên thì hữu hạn. Theo ý kiến cá nhân, lời giải cho bài toán này là Việt Nam phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất lao động - tức tạo ra giá trị sản xuất dựa trên tri thức và công nghệ, thay vì dựa vào vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên như trước.

Để thực hiện bước chuyển mình này, lẽ dĩ nhiên Việt Nam cần đầu tư bài bản và đúng hướng cho cả khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng lẫn công nghệ. Đảng và Nhà nước đã rất sáng suốt và kịp thời khi xác định phát triển khoa học công nghệ là một yêu cầu cấp bách của giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, nguồn lực đất nước là hữu hạn, nên cần chọn đúng trọng tâm chiến lược và hướng tới tự chủ công nghệ, tránh đầu tư dàn trải vừa gây lãng phí ngân sách vừa không thu được kết quả tương xứng.

Là một người trực tiếp làm nghiên cứu, tôi cho rằng trước hết cần tháo gỡ những cơ chế quản lý nặng tính hành chính đang gây trở ngại cho việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học. Đi liền với đó là sự thay đổi về tư duy: chấp nhận rủi ro và độ trễ vốn có của nghiên cứu khoa học, bởi từ một kết quả nghiên cứu đến lúc có ứng dụng thực tế thường là một quãng đường dài và không phải lúc nào cũng thành công. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc đặt hàng và triển khai các nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ, để nghiên cứu gắn chặt hơn với nhu cầu thực của nền kinh tế cũng như tận dụng được mọi nguồn lực để phát triển.

Nhưng quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay, theo tôi, là đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học công nghệ. Để làm được điều này, cần xây dựng chương trình đào tạo STEM theo chiều sâu ngay từ bậc phổ thông, đổi mới giáo dục đại học theo hướng nghiên cứu, và thành lập những trung tâm nghiên cứu lớn, có uy tín, đủ sức vừa đào tạo vừa phát triển đội ngũ nhân lực trong nước. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ nhân tài và thu hút tri thức kiều bào, tạo điều kiện để họ yên tâm cống hiến cho đất nước.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ. Thông qua đó, các chuyên gia trong nước được tiếp cận với những tri thức tiên tiến nhất mà thế giới đang theo đuổi, còn lớp sinh viên trẻ sẽ nhanh chóng trưởng thành, kịp thời đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao của đất nước.

Chú thích ảnh
TS Nguyễn Xuân Dũng giảng bài tại Trường học Nâng cao về Vật liệu Tô pô Lượng tử 2025, tổ chức tại Trung tâm Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành, ICISE. Ảnh: ICISE.

Trong một phát biểu gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phải thống nhất nhận thức công nghệ lượng tử là vấn đề chiến lược quốc gia, không chỉ là vấn đề nghiên cứu khoa học đơn thuần và phải đặt vấn đề phát triển công nghệ lượng tử trong tổng thể triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Ông có thể làm rõ hơn vấn đề này?

Là người làm vật lý, tôi hiểu vì sao công nghệ lượng tử không chỉ là nghiên cứu khoa học đơn thuần. Ngày nay, công nghệ lượng tử đã bước ra khỏi phòng thí nghiệm để trở thành một nền tảng quan trọng cho năng lực quốc gia. Chính vì vậy, các nước phát triển đều dành nguồn lực thích đáng để đầu tư cho cả khoa học lượng tử lẫn công nghệ lượng tử.

Điều đầu tiên, mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề cập, là vấn đề bảo mật. Hiện nay, các thuật toán lượng tử chưa thể giải mã được những hệ mật mã đang dùng, nhưng nếu Việt Nam không sớm nghiên cứu mật mã hậu lượng tử để chuẩn bị cho tương lai, thì đây sẽ là một điểm yếu vô cùng nguy hại đối với an ninh quốc gia.

Không chỉ vậy, phát triển công nghệ lượng tử còn phải được đặt trong bức tranh tổng thể của phát triển khoa học công nghệ theo Nghị quyết 57, để song hành cùng các hướng mũi nhọn khác. Sự bổ trợ lẫn nhau giữa những công nghệ tiên tiến là điều hết sức tự nhiên và hợp lý, và theo tôi, đó chính là một điểm rất sâu sắc của trong phát biểu của Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Thưa ông, xin ông đánh giá vai trò của công nghệ lượng tử trong việc đáp ứng đáp ứng yêu cầu tự chủ chiến lược của đất nước trong giai đoạn mới?

Như đã nói ở trên, tôi đánh giá rất cao chủ trương đặt công nghệ lượng tử trong tổng thể định hướng phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số mà Đảng và Nhà nước đề ra. Ngoài ý nghĩa chiến lược về bảo mật số đã đề cập, công nghệ lượng tử còn góp phần giúp ta tự chủ nhiều công nghệ chiến lược khác, và điều thú vị là sự bổ trợ này diễn ra theo cả hai chiều.

Một mặt, công nghệ bán dẫn đóng vai trò quan trọng trong việc chế tạo phần cứng cho thiết bị lượng tử. Nhưng ở chiều ngược lại, mô phỏng lượng tử lại có thể tạo ra những đóng góp đột phá cho việc phát triển vật liệu mới, vốn có ứng dụng then chốt cho chính ngành bán dẫn cũng như cho quốc phòng. Đây chính là kiểu cộng hưởng giữa các công nghệ tiên tiến mà tôi cho là rất tự nhiên và hợp lý.

Không chỉ vậy, cảm biến lượng tử còn đóng vai trò quan trọng đối với chuyển đổi số. Với công nghệ định vị lượng tử không cần GPS, tọa độ có thể được xác định chính xác ngay cả khi không có sóng vệ tinh hoặc bị gây nhiễu, điều rất có ý nghĩa trong các môi trường đặc biệt và tình huống quốc phòng. Ở một hướng khác, các cảm biến từ trường lượng tử có thể đo những tín hiệu điện từ cực yếu của não và tim mà không cần tiếp xúc, mở ra nguồn dữ liệu y sinh mới cho chẩn đoán dựa trên AI, một mảng đang lên của y tế số.

Công nghệ lượng tử là lĩnh vực rất mới, khó, diễn biến nhanh và liên quan nhiều lĩnh vực, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu sâu, bài bản. Vậy Việt Nam cần lựa chọn đúng hướng đi phù hợp với điều kiện đất nước như thế nào, thưa ông?

Nguyên tắc đầu tiên: Chọn theo lợi thế và nhu cầu, không chọn theo "mốt". Đây cũng là điểm nhấn mạnh trong các phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Lượng tử là một lĩnh vực rất rộng, từ tính toán, truyền thông, đến cảm biến và vật liệu. Việt Nam không thể và không nên làm tất cả.

Từ nguyên tắc đó, tôi cho rằng có thể phân loại các hướng theo ba mức độ ưu tiên. Và xin nhấn mạnh đây là ý kiến chủ quan của cá nhân, chắc chắn có thiếu sót vì kiến thức của tôi không thể đủ bao quát và sâu sắc về tất cả các mảng của khoa học, công nghệ lượng tử.

Mức ưu tiên cao, làm ngay, vì cấp thiết và khả thi. Trước hết là mật mã hậu lượng tử. Đây là việc cần làm ngay, rào cản công nghệ thấp (chủ yếu là toán học và phần mềm, không đòi hỏi hạ tầng đắt đỏ), mà ý nghĩa an ninh thì sống còn. Tiếp đến là cảm biến lượng tử, một số loại có rào cản chế tạo thấp hơn nhiều so với máy tính lượng tử, lại cho giá trị ứng dụng thực tế sớm trong quốc phòng, y tế số.

Mức trung hạn, đầu tư nền tảng, tham gia có chọn lọc. Ở mảng tính toán lượng tử, theo tôi Việt Nam không nên lao vào chế tạo phần cứng nghìn qubit để cạnh tranh với Mỹ hay Trung Quốc, đó là cuộc đua tốn kém và ta khó có cơ hội. Thay vào đó, ta nên tập trung vào thuật toán và phần mềm lượng tử, truy cập phần cứng qua nền tảng đám mây của quốc tế, và xây dựng năng lực truyền tin lượng tử trên hạ tầng cáp quang sẵn có. Đây là cách "tham gia cuộc chơi" mà không phải gánh chi phí phần cứng khổng lồ. Thêm nữa chúng ta có thể phát triển các hướng mô phỏng lượng tử phục vụ cho nghiên cứu vật liệu mới, vừa tăng năng lực làm chủ công nghệ lượng tử cũng như làm chủ công nghệ vật liệu.

Đầu tư dài hạn và xuyên suốt là con người và nghiên cứu cơ bản. Đây là điểm tôi muốn nhấn mạnh nhất từ góc độ một người làm khoa học cơ bản. Việt Nam có một lợi thế thực sự mà ta thường đánh giá thấp, truyền thống mạnh về toán học. Mà nghiên cứu lý thuyết lượng tử lại là thứ "rẻ" nhất, không cần phòng sạch hay thiết bị triệu đô, chỉ cần những bộ óc giỏi. Đầu tư vào đào tạo nhân lực và nghiên cứu cơ bản chính là khoản đầu tư có hệ số nhân cao nhất, và cũng là thứ bền vững nhất, vì công nghệ thì thay đổi nhanh nhưng một đội ngũ chuyên gia giỏi thì có thể thích ứng với mọi biến động.

Cuối cùng, vì lĩnh vực này "diễn biến nhanh và liên quan nhiều lĩnh vực" như câu hỏi nêu, tôi cho rằng hợp tác quốc tế không phải là lựa chọn mà là điều kiện bắt buộc. Không một quốc gia nào tự đi một mình trong lượng tử. Việt Nam cần chủ động kết nối với các trung tâm hàng đầu thế giới để chuyên gia trong nước được tiếp cận tri thức tiên tiến nhất, đồng thời để lớp trẻ trưởng thành nhanh trong môi trường đỉnh cao.

Chú thích ảnh
TS Nguyễn Xuân Dũng trao đổi với Giáo sư Đàm Thanh Sơn (Đại học Chicago, Mỹ) tại Trung tâm ICISE, Gia Lai. Ảnh: Xuân Huyên

Việt Nam cần ưu tiên phát triển công nghệ lượng tự trong những lĩnh vực nào để đem lại những kết quả thực chất nhất cho quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn 5-10 năm tới?

Tôi xin nêu bốn lĩnh vực ưu tiên cho 5-10 năm tới, xếp theo mức độ cấp thiết của lợi ích quốc gia và mức độ chắc chắn của kết quả.

Thứ nhất và quan trọng nhất là mật mã hậu lượng tử, đây là việc cần làm ngay, rào cản thấp vì chỉ là toán học và phần mềm, nhưng ý nghĩa an ninh thì sống còn. Mục tiêu cụ thể là chuyển đổi các hệ thống trọng yếu (ngân hàng, chính phủ điện tử, dữ liệu quốc phòng) sang chuẩn mật mã kháng lượng tử.

Thứ hai là cảm biến lượng tử, mảng cho "trái ngọt" sớm vì rào cản chế tạo thấp hơn máy tính lượng tử: cảm biến y sinh cho y tế số, cảm biến thăm dò khoáng sản, giám sát hạ tầng.

Thứ ba là truyền tin lượng tử (QKD)-không nhằm phủ sóng toàn quốc, mà thí điểm có chọn lọc các tuyến liên lạc siêu bảo mật cho một số cơ quan trọng yếu.

Thứ tư là phần mềm, thuật toán và nguồn nhân lực. Xin nói thẳng, kết quả thực chất trong 5-10 năm không phải là một máy tính lượng tử "made in Vietnam", mà là một đội ngũ chuyên gia đủ mạnh và vài nhóm làm chủ thuật toán, truy cập phần cứng quốc tế qua đám mây để giải các bài toán cụ thể của ta.

Để phát triển công nghệ lượng tử, Việt Nam cần chuẩn bị hạ tầng, nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế ở mức độ nào?

Câu hỏi này gói gọn ba điều kiện then chốt, và mức độ cần thiết cho từng cái lại khác nhau.

Hạ tầng đầu tư vừa đủ, tập trung và dùng chung, không đồ sộ dàn trải. Thay vì xây nhiều phòng thí nghiệm rải rác, nên dồn vào một vài trung tâm trọng điểm quốc gia: truy cập phần cứng tính toán qua đám mây quốc tế, tận dụng cáp quang sẵn có để thí điểm truyền tin, và chỉ đầu tư chế tạo cho những hướng cảm biến, vật liệu đã chọn lọc, tốt nhất gắn với hạ tầng bán dẫn để dùng chung.

Nguồn nhân lực là chỗ cần dồn sức nhiều nhất. Mục tiêu không phải đào tạo ồ ạt hàng nghìn người, mà xây dựng một "số lượng tới hạn" vài trăm chuyên gia thực chất trong 10 năm, bằng cách đào tạo chiều sâu trong nước, gửi người giỏi ra học rồi tạo điều kiện để họ về, và thu hút tri thức kiều bào. Ta có lợi thế thật về truyền thống toán và vật lý lý thuyết, nên tận dụng triệt để.

Hợp tác quốc tế không phải lựa chọn mà là điều kiện bắt buộc, ở mức sâu nhưng có chọn lọc. Cần phòng thí nghiệm chung, trao đổi chuyên gia, gửi sinh viên đến các trung tâm hàng đầu và tham gia các chuẩn mực quốc tế. Nhưng "sâu" phải đi liền với "chọn lọc", ở những lĩnh vực nhạy cảm như mật mã hậu lượng tử hay quốc phòng, phải giữ tự chủ và chọn đối tác cẩn trọng , hợp tác để lớn lên, không để phụ thuộc.

Tóm lại, ba mức độ này không cào bằng: hạ tầng cần tiết chế và tập trung, con người cần dồn sức tối đa, hợp tác quốc tế cần sâu nhưng có chọn lọc. Và nếu phải chọn ưu tiên hàng đầu, tôi vẫn đặt con người lên trên hết, có đội ngũ giỏi thì hạ tầng và hợp tác sẽ theo sau, còn thiếu con người thì đổ bao nhiêu tiền vào thiết bị cũng khó tạo ra giá trị thực.

Trân trọng cảm ơn ông!

Khánh Chi (thực hiện)