“Liệu công nghệ có thể giúp một con người ‘nói’ được điều họ muốn nói?” với TS Ngô Thị Duyên (giảng viên Khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Công nghệ, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2025), mọi hành trình nghiên cứu đều bắt đầu từ một câu hỏi giản dị như vậy.
Khi con cất tiếng khóc chào đời, người mẹ nào cũng muốn ôm con vào lòng và thì thầm một câu:“Chào mừng con đến với thế giới”. Nhưng với một người mẹ trẻ ngoài 30 tuổi, điều tưởng chừng rất đỗi bình thường ấy lại không thể thốt thành lời. Căn bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS) khiến chị mất đi khả năng giao tiếp suốt một thời gian dài.
Cho đến khi nhờ sự hỗ trợ của công nghệ - hệ thống BLife, chị có thể bày tỏ nỗi lòng của mình. Câu đầu tiên chị nói với cô con gái bé bỏng: “Mẹ có thể dạy con học rồi”. Khoảnh khắc ấy, với TS Ngô Thị Duyên (giảng viên Khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội), mãi là ký ức không thể quên trong hành trình theo đuổi những nghiên cứu công nghệ vì con người.
“Công nghệ vị nhân sinh”
Gần 20 năm làm nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, TS Ngô Thị Duyên đã tham gia giải quyết nhiều bài toán khoa học khác nhau; nhưng với chị, có một công trình luôn ở lại sâu nhất trong ký ức, không chỉ vì giá trị khoa học, mà bởi những trải nghiệm nhân văn mà nó mang lại. Đó là hệ thống BLife - một giải pháp công nghệ hỗ trợ những người bị liệt hoàn toàn và mất khả năng nói có thể giao tiếp với mọi người xung quanh.
TS Ngô Thị Duyên (giảng viên Khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Công nghệ, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2025).
Hệ thống BLife giúp họ mở lại “cánh cửa giao tiếp” bằng chính chuyển động của đôi mắt. Chỉ cần nhìn vào các ký tự trên màn hình, người bệnh có thể ghép thành câu, phát ra tiếng nói, thậm chí có thể tham gia các mạng xã hội Zalo, Facebook, xem tivi hay lướt web…
Dự án được khởi xướng bởi PGS.TS Lê Thanh Hà (Trưởng phòng thí nghiệm Tương tác người - máy, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội) và TS Ngô Thị Duyên là một trong những thành viên chủ chốt tham gia từ năm 2019. Đến năm 2020, phiên bản đầu tiên của hệ thống đã được đưa vào sử dụng, hỗ trợ một người thầy trong chính lĩnh vực công nghệ thông tin, duy trì khả năng giao tiếp trong những giai đoạn cuối của cuộc đời.
Từ một thiết bị thử nghiệm ban đầu, BLife dần được ứng dụng rộng rãi hơn. Hệ thống hiện đã hỗ trợ nhiều bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS) tại Việt Nam. Nhiều gia đình sử dụng thiết bị ngay tại nhà. Tại một số bệnh viện như Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Việt Pháp, Bệnh viện Thanh Nhàn và một số cơ sở y tế địa phương. Những trải nghiệm từ Blife đã mở ra một hướng đi mới trong hành trình nghiên cứu của TS Ngô Thị Duyên: Phát triển công nghệ dành cho những nhóm người yếu thế.
“Đó là trải nghiệm khiến tôi nhận ra rất rõ ràng giá trị xã hội và giá trị nhân văn của nghiên cứu khoa học”, TS Duyên chia sẻ.
Sau đó, chị chủ trì một nhóm nghiên cứu tập trung vào việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ theo dõi chuyển động mắt để hỗ trợ trẻ em có nhu cầu đặc biệt trong giáo dục như trẻ tự kỷ, trẻ mắc rối loạn đọc viết hay khó khăn trong tính toán.
Nhóm nghiên cứu này được hình thành khoảng 4 năm gần đây và đã đạt được những kết quả ban đầu. Mục tiêu trong vài năm tới là có sản phẩm thực tiễn để hỗ trợ việc sàng lọc, chẩn đoán sớm và can thiệp cho trẻ.
Với trẻ tự kỷ, khả năng giao tiếp xã hội thường rất hạn chế. Khi đến các trung tâm giáo dục đặc biệt, các em phải học cách diễn đạt mong muốn và cảm xúc của mình. Hệ thống mà nhóm của TS Duyên phát triển sử dụng công nghệ theo dõi chuyển động mắt để hiểu trẻ đang chú ý đến điều gì, thích điều gì, từ đó giúp giáo viên xây dựng lộ trình can thiệp phù hợp.
“Mỗi đứa trẻ là một thế giới rất khác nhau”, TS Duyên nói: “Có em thích ô tô, có em lại đặc biệt hứng thú với động vật hay cây cối. Khi hiểu được điều trẻ quan tâm, chúng ta có thể thiết kế cách tiếp cận phù hợp hơn”.
Bên cạnh đó, nhóm cũng đang phát triển các hệ thống hỗ trợ chẩn đoán sớm thông qua đặc trưng thị giác khi trẻ quan sát sự vật, cũng như phát triển các ứng dụng thực tế ảo (VR) giúp trẻ làm quen với các kỹ năng giao tiếp xã hội.
TS Ngô Thị Duyên (thứ hai, từ trái sang) vinh dự được trao giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2025.
Một hướng nghiên cứu khác là hỗ trợ trẻ mắc rối loạn đọc viết hoặc rối loạn tính toán. Nhóm đang xây dựng các công cụ sàng lọc dựa trên dữ liệu chuyển động mắt kết hợp với thuật toán trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, một hệ thống học tập trên thiết bị di động cũng được phát triển để điều chỉnh cách hiển thị nội dung hoặc lộ trình học, giúp trẻ tiếp cận bài học dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, theo TS Ngô Thị Duyên, nghiên cứu công nghệ cho những đối tượng yếu thế luôn đi kèm nhiều thách thức. Không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà còn là những rào cản xã hội và tâm lý. Bởi, khi một giải pháp được đưa ra khỏi phòng thí nghiệm, triển khai trong đời sống, có vô vàn yếu tố tác động. Với người dùng bình thường đã có những trở ngại nhất định, nhưng với những người yếu thế, các vấn đề phát sinh còn nhiều và phức tạp hơn rất nhiều.
“Ở Việt Nam, chăm sóc thể chất thường được quan tâm nhiều hơn chăm sóc tinh thần. Trong khi khả năng giao tiếp có ý nghĩa rất lớn đối với chất lượng cuộc sống của người bệnh”, TS Duyên trải lòng.
Bên cạnh đó, theo TS Ngô Thị Duyên còn có những áp lực kinh tế và những câu chuyện rất đời thường trong mỗi gia đình. Với những bệnh nhân bị liệt, họ gần như hoàn toàn phụ thuộc vào người thân. Nhưng chính người thân cũng đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, từ công việc, tài chính đến những áp lực tâm lý trong gia đình.
Trong khi đó, khi làm việc với các trung tâm giáo dục đặc biệt, bài toán lại mang một đặc thù hoàn toàn khác. Đối tượng ở đây là trẻ em, những người vốn đã yếu thế, lại còn ở độ tuổi vị thành niên.
TS Duyên đưa ra những ví dụ về những đứa trẻ tự kỷ, các em thường có một đặc điểm rất rõ rệt là tính cá nhân cực kỳ cao. Mặc dù cùng được chẩn đoán tự kỷ, nhưng mỗi em lại có mức độ và cách biểu hiện khác nhau. Vì vậy, để phát triển một công nghệ mang tính tổng quát, có thể hỗ trợ cho nhiều đối tượng, là một thách thức không hề nhỏ.
TS Ngô Thị Duyên tâm huyết với các dự án nghiên cứu công nghệ vì cuộc sống con người.
“Hay như rối loạn đọc, viết, thực ra trước khi làm nghiên cứu trong lĩnh vực này, chính tôi cũng chưa từng biết đến. Và ở Việt Nam, rất nhiều bậc cha mẹ cũng không biết rằng tồn tại dạng rối loạn này. Thậm chí, nhiều người không nhận ra rằng con mình đang gặp một rào cản thực sự. Để cha mẹ có thể thừa nhận rằng con mình có khó khăn trong phát triển, đó là cả một quá trình tâm lý không hề dễ dàng. Từ việc tiếp nhận thông tin, đối diện với sự thật, cho đến khi chấp nhận và lựa chọn một phương pháp can thiệp phù hợp cho con, tất cả đều là những bước đi đầy trăn trở. Nhưng bù lại, chính trong lĩnh vực này, niềm vui mà người làm nghiên cứu nhận được cũng rất đặc biệt. Khi một giải pháp công nghệ có thể giúp bệnh nhân giao tiếp tốt hơn, hay hỗ trợ một đứa trẻ vượt qua rào cản của mình, cảm xúc của chúng tôi thật sự rất hạnh phúc. Đó là khoảnh khắc mà người làm khoa học nhận ra rằng kết quả nghiên cứu của mình không chỉ nằm trên giấy, mà đã thực sự chạm tới cuộc sống”, chị Duyên bộc bạch.
Và cũng chính trong những câu chuyện làm nghề, làm nghiên cứu công nghệ đó, TS Ngô Thị Duyên và các cộng sự lại tìm thấy những động lực mạnh mẽ cho công việc của mình: “Khi tiếp xúc với những trẻ em có nhu cầu đặc biệt, điều khiến tôi ấn tượng nhất là sự cố gắng của các em. Các bạn nhỏ rất nỗ lực, rất kiên trì và vô cùng đáng yêu. Trong quá trình làm việc, chúng tôi gặp nhiều em đến từ Hà Nội, nhưng cũng có những em từ các tỉnh xa, những vùng còn nhiều khó khăn về kinh tế. Chính vì vậy, các em cũng chịu nhiều thiệt thòi hơn trong hành trình học tập và tiếp cận với những phương pháp hỗ trợ phù hợp”.
Còn khi làm việc với những người trưởng thành qua hệ thống BLife, nhiều câu chuyện khiến chị không giấu nổi niềm vui, nỗi xúc động. Chị nhớ mãi một bệnh nhân trẻ, sinh năm 1986. Khi mắc bệnh, cô mới ngoài 30 tuổi, con gái còn rất nhỏ. Trong một thời gian dài, bạn gần như không thể giao tiếp, không thể trò chuyện hay dạy dỗ con mình. Nhưng khi thiết bị được đưa vào sử dụng, câu đầu tiên chị nói với con gái: “Mẹ có thể dạy con học rồi”.
“Đó là khoảnh khắc rất xúc động. Có những niềm vui mà rất khó diễn tả bằng lời”, TS Duyên nhớ lại.
Không chỉ có những câu chuyện của cha mẹ với con cái, còn có những cuộc trò chuyện giữa ông bà và cháu, giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con… Những điều tưởng chừng bình thường, nhưng với những bệnh nhân, nó lại quý giá đến vô cùng.
Hệ thống BLife (My Beautiful Life) là một giải pháp hỗ trợ giao tiếp dành cho người bị tổn thương nghiêm trọng chức năng vận động (https://blife.ai). Hệ thống cho phép người bệnh bị liệt hoàn toàn và mất khả năng nói (như bệnh nhân ALS, đột quỵ, Parkinson giai đoạn muộn,…) có thể giao tiếp trở lại bằng cách sử dụng chuyển động mắt để điều khiển máy tính.
Hiện nay, hệ thống đã được ứng dụng thực tế, mang lại hiệu quả tích cực rõ rệt trong việc giúp người bệnh kết nối và tái hòa nhập với xã hội. Đây là một giải pháp có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần “công nghệ vì con người” và đã tạo ra tác động xã hội mạnh mẽ.
Không dừng lại ở công nghệ hỗ trợ con người, phòng thí nghiệm nơi TS Ngô Thị Duyên công tác còn mở rộng nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa.
Từ năm 2016, nhóm bắt đầu phát triển các ứng dụng thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) cho bảo tàng và các không gian văn hóa. Một trong những dự án đầu tiên được triển khai tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Thái Nguyên. Những ứng dụng này cho phép khách tham quan trải nghiệm nhạc cụ dân tộc, nghệ thuật múa rối, hay các loại hình sân khấu truyền thống trong không gian số.
Tại Trường Đại học Sân khấu, Điện ảnh, nhóm còn phát triển hệ thống ghi nhận chuyển động của nghệ sĩ chèo, từ đó dựng lại mô hình 3D và sân khấu ảo để sinh viên có thể học các vai mẫu.
“Công nghệ có thể giúp di sản trở nên sống động và hấp dẫn hơn, đặc biệt với giới trẻ”, TS Duyên nói.
Gần đây, nhóm cũng hỗ trợ tỉnh Thanh Hóa xây dựng hệ thống số hóa dữ liệu cho bách khoa thư văn hóa địa phương, giúp nhiều đơn vị và công chúng dễ dàng tiếp cận thông tin trực tuyến.
Với TS Ngô Thị Duyên, công nghệ không chỉ là những dòng mã, hay thuật toán phức tạp. Ở đâu đó, phía sau mỗi nghiên cứu vẫn là con người, là những bệnh nhân đang nỗ lực tìm lại tiếng nói, những đứa trẻ đang nỗ lực vượt qua rào cản phát triển, hay những di sản văn hóa đang tìm cách sống tiếp trong đời sống hiện đại. Chính những điều đó khiến con đường nghiên cứu của chị, dù nhiều thử thách, vẫn luôn tràn đầy ý nghĩa.
“Gieo mầm” đam mê
TS Ngô Thị Duyên luôn nói về nghề dạy học bằng một giọng đầy ấm áp. Với chị, đứng trên bục giảng không chỉ là công việc, mà là giấc mơ đã được ươm mầm từ những năm tháng học cấp ba.
“Thực ra, nghề dạy học là nghề mơ ước của tôi từ hồi còn học phổ thông. Với tôi, được đi dạy đã là một niềm vui”, chị Duyên chia sẻ.
Trong môi trường đại học, nhiều người say mê nghiên cứu, nhiều người dành trọn tâm huyết cho giảng dạy. Còn chị, dường như tìm thấy niềm hứng khởi ở cả hai con đường ấy. Niềm vui của chị là được vừa nghiên cứu, vừa đồng hành cùng sinh viên trên hành trình khám phá tri thức.
Tiến sĩ Ngô Thị Duyên cùng các học trò mà chị hướng dẫn làm khóa luận tốt nghiệp.
Ở Khoa Công nghệ thông tin, một lĩnh vực vốn được xem là “sân chơi” của nam giới, lớp học của chị nhiều năm liền có tỷ lệ nữ sinh rất thấp. Thậm chí có những khóa, lớp học 50 - 70 sinh viên mà không có một bạn nữ nào. Chính thực tế ấy khiến chị luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho các nữ sinh hiếm hoi trong ngành.
Không phải là sự ưu ái theo nghĩa thiên vị, mà là sự khích lệ. Bởi theo chị, trong lĩnh vực công nghệ, những định kiến về giới đôi khi vẫn âm thầm tồn tại rằng, phụ nữ yếu thế hơn, hoặc không phù hợp với những ngành kỹ thuật khô khan.
Vì thế, trong mỗi giờ học, chị luôn cố gắng tạo ra những cuộc trao đổi, chia sẻ cởi mở, để các nữ sinh thấy rằng họ hoàn toàn có thể làm tốt, thậm chí rất tốt. Thực tế đã chứng minh điều đó. Không ít nữ sinh do chị hướng dẫn đã đạt được những thành tích ấn tượng: Từ những bài báo khoa học quốc tế thuộc hệ thống Q1, Q2, đến các giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, hay những công trình được trình bày tại các hội nghị quốc tế…
“Các bạn nữ không hề thua kém các bạn nam. Thậm chí nhiều bạn còn làm rất tốt…”, chị Duyên tự hào nói.
Các môn học chị phụ trách chủ yếu dành cho sinh viên năm ba, năm tư, giai đoạn sinh viên bắt đầu bước sâu vào chuyên ngành. Trong một lĩnh vực thay đổi từng ngày như công nghệ thông tin, chị luôn coi việc cập nhật tri thức mới là điều sống còn. Nhưng với chị, học công nghệ không chỉ là nắm kiến thức, mà còn là biết biến kiến thức thành giải pháp cho đời sống.
“Điều tôi luôn muốn sinh viên nghĩ tới là những gì các bạn học được sẽ được áp dụng vào thực tế như thế nào để tạo ra sản phẩm, ứng dụng có ích…”, chị Duyên chia sẻ.
Có lẽ chính vì vậy mà trong các môn học của mình, chị luôn khuyến khích sinh viên thực hiện các dự án gắn với đời sống thực. Không chỉ dừng ở ý tưởng hay bài tập trên lớp, nhiều dự án được chị hỗ trợ để thử nghiệm trong thực tiễn. Có dự án kết nối với bảo tàng, có dự án làm việc với các đơn vị văn hóa, có dự án hợp tác với các trường nghệ thuật liên ngành… để sinh viên có cơ hội nhìn công nghệ từ nhiều góc độ khác nhau.
Với TS Ngô Thị Duyên, giảng dạy là giấc mơ chị ươm mầm từ những năm tháng học cấp ba.
Nhưng điều khiến chị tâm huyết hơn cả là những ứng dụng công nghệ hướng tới những nhóm người yếu thế. Sau nhiều năm nghiên cứu, đặc biệt từ khi phát triển dự án công nghệ hỗ trợ người khuyết tật như Blife, chị đặt cho mình một mục tiêu rõ ràng: “Công nghệ vị nhân sinh”, phát triển công nghệ vì con người. Theo tôi, trong thực tế, những sản phẩm công nghệ mang tính nhân văn thường gặp nhiều khó khăn. Không phải vì các nhà nghiên cứu không muốn làm, mà bởi chúng thường gắn với những rào cản về kinh tế và thương mại. Nhiều thiết bị hỗ trợ người khuyết tật hay các nhóm yếu thế khó tìm được nguồn đầu tư, bởi chúng không phải lúc nào cũng mang lại lợi nhuận. Nhưng chính ở đó, tôi lại nhìn thấy ý nghĩa lớn lao của khoa học".
“Có những sản phẩm không mang tính thương mại, nhưng lại vô cùng cần thiết đối với một nhóm người nào đó trong xã hội. Và khi thấy sản phẩm của mình thực sự giúp được họ, niềm vui ấy rất khó diễn tả”, TS Duyên bày tỏ.
Trong lớp học, ngoài kiến thức chuyên môn, điều chị luôn muốn trao cho sinh viên là niềm tin. Niềm tin vào khả năng của bản thân, và niềm tin rằng công nghệ có thể làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Với các nữ sinh, thông điệp ấy càng được chị nhắc đi nhắc lại: “Hãy tự tin.”
Trong một ngành nghề mà nữ giới vẫn còn là thiểu số, sự tự tin và đam mê chính là chìa khóa để bước tiếp. Theo chị, khi đã có đam mê, con người sẽ tự tìm thấy động lực để vượt qua mọi rào cản. Bản thân chị cũng đang sống với niềm đam mê ấy mỗi ngày. Đó là đam mê tạo ra những sản phẩm công nghệ có ý nghĩa, đam mê chứng kiến những ý tưởng của sinh viên trở thành hiện thực, và đam mê nhìn thấy công nghệ được dùng để nâng đỡ những con người yếu thế.
“Niềm vui lớn nhất là khi mình thấy sản phẩm mình làm ra thực sự có giá trị với ai đó. Chính điều đó tạo cho mình động lực để tiếp tục phát triển những sản phẩm tiếp theo”, TS Duyên nhấn mạnh.
Từ câu chuyện của TS Ngô Thị Duyên gợi ra một điều giản dị: “Khoa học, suy cho cùng, vẫn bắt đầu từ lòng trắc ẩn và khát vọng làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn”.
Thành tích khen thưởng nổi bật của TS Ngô Thị Duyên:
1.Bằng khen hoặc Huân chương hoặc Huy chương do Chính phủ, Nhà nước trao tặng
Là thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu phát triển và triển khai hệ thống BLife và Sáng kiến Mắt nói, hỗ trợ nhóm người bệnh bị tổn thương chức năng vận động, thuộc Phòng Thí nghiệm Tương tác Người - máy, nhóm nghiên cứu đã vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vào tháng 3 năm 2025 vì những đóng góp ý nghĩa, nhân văn trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ hỗ trợ người yếu thế trong xã hội.
2. Các giải thưởng, danh hiệu về thành tích đặc biệt xuất sắc do Chính phủ, Nhà nước, Bộ/ngành trao tặng
Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2025.
Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội dành cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai Nghị quyết 58-NQ/TW tại ĐHQGHN.
Chiến sĩ thi đua cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2025.
Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội dành cho cá nhân tiêu biểu trong phong trào thi đua giai đoạn 2020 - 2025.
Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2024.
Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo năm 2024.
Giành Giải thưởng Nhà giáo Đại học Quốc gia Hà Nội của năm 2023, nhận Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội năm học 2022 - 2023.
Chiến sĩ thi đua cấp Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023 và liên tục là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong 5 năm gần đây.
Giấy khen của Ban Chấp hành Công đoàn Đại học Quốc gia Hà Nội các năm 2024, 2022, 2021, dành cho công đoàn viên có thành tích xuất sắc trong hoạt động cộng đoàn và công đoàn viên nữ giỏi việc trường - đảm việc nhà.
3. Bằng sáng chế hoặc các sáng kiến được cấp có thẩm quyền công nhận hoặc các giải thưởng quốc tế
Là đồng tác giả của 02 bằng độc quyền sáng chế quốc tế do Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cấp (năm 2024).
Là đồng tác giả của 05 bằng sáng chế do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp (các năm 2023, 2024, 2025, 2026).
Là tác giả của 02 đăng ký sáng chế khác đã được chấp nhận đơn hợp lệ bởi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (từ năm 2020 đến năm 2024).
Có 02 sáng kiến được công nhận có hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo (các năm 2024, 2023).
Có 01 sáng kiến được công nhận có hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2023).
Có 06 sáng kiến được công nhận có hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng cấp Trường Đại học Công nghệ (các năm 2024, 2023, 2022, 2021).