09:12 12/09/2026

Trên 9.300 tỷ USD nợ nước ngoài: 'Quả bóng nóng' của nước Mỹ

Trái phiếu Chính phủ Mỹ đang giảm sức hấp dẫn, nhưng các nhà đầu tư nước ngoài cũng không dễ dàng quay lưng với chúng. Một đợt bán tháo quy mô lớn sẽ gây thiệt hại trực tiếp cho chính các nhà đầu tư đồng thời gây xáo trộn trên thị trường tài chính quốc tế.

Chú thích ảnh
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent phát biểu họp báo tại Washington, DC. Ảnh: Kyodo/TTXVN phát

Sức ép từ những trái chủ nước ngoài

Theo tờ El Pais, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm, một trong những trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu, là cơ sở cho hàng nghìn tỷ USD khoản vay trên thế giới và được sử dụng làm mức tham chiếu để định giá tiền trong vô số giao dịch ngân hàng và tài chính. Tuy nhiên, thời gian gần đây, loại tài sản này trở thành mối quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư khi lợi suất tăng trong bối cảnh lạm phát vẫn dai dẳng và kỳ vọng lãi suất sẽ tiếp tục tăng.

Đối với Chính phủ Mỹ, lợi suất cao hơn đồng nghĩa gánh nặng trả lãi đối với khoản nợ tăng lên. Với những nhà đầu tư đang nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ, lợi suất tăng lại đồng nghĩa giá trái phiếu giảm và các khoản đầu tư hiện hữu có thể chịu thua lỗ.

Hơn 1/3 tổng số nợ Chính phủ Mỹ là từ các nhà đầu tư nước ngoài và ngân hàng trung ương. Tổng cộng, nhóm này đang nắm giữ 9.320 tỷ USD trái phiếu Kho bạc Mỹ. Con số này không chỉ cho thấy nguồn vốn quốc tế đang góp phần tài trợ cho tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách ngày càng lớn của Mỹ, mà còn cho thấy Washington đang gắn với một mạng lưới chủ nợ rộng khắp ở nước ngoài.

Trong khi lợi suất trái phiếu tăng, triển vọng tài chính công dài hạn của Mỹ cũng trở thành mối quan tâm lớn hơn. Nợ quốc gia Mỹ đã vượt 40 nghìn tỷ USD, buộc Chính phủ Mỹ tiếp tục phát hành trái phiếu để tài trợ cho hoạt động của mình và thanh toán khoản chi phí lãi vay ngày càng lớn.

Nhưng điều đáng chú ý là các chủ nợ nước ngoài cũng không dễ dàng quay lưng với trái phiếu Mỹ. Một đợt bán tháo quy mô lớn có thể khiến giá trái phiếu giảm mạnh, gây thiệt hại trực tiếp cho chính những nhà đầu tư đang nắm giữ chúng và đồng thời gây xáo trộn trên thị trường tài chính quốc tế.

Quyết định được Quỹ đầu tư quốc gia Na Uy công bố tuần trước về việc giảm mức độ tiếp xúc với trái phiếu Chính phủ Mỹ cho thấy rõ thế khó này. Động thái trên dự kiến làm giảm khoảng 75 tỷ USD lượng trái phiếu Kho bạc Mỹ mà quỹ này nắm giữ, dù phần lớn số tiền đó vẫn được đầu tư vào các tài sản có thu nhập cố định khác tại Mỹ, chẳng hạn chứng khoán bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp.

“Các nhà đầu tư nước ngoài đã tích lũy lượng trái phiếu Kho bạc và cổ phiếu Mỹ lớn đến mức họ cũng có nhiều thứ để mất như người Mỹ nếu xảy ra khủng hoảng nợ”, Nadia Gharbi, chuyên gia kinh tế tại Pictet Wealth Management, nhận định. “Hy vọng rằng khu vực chính thức ở nước ngoài - gồm các ngân hàng trung ương lớn và các quỹ đầu tư quốc gia - sẽ phối hợp với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để ngăn chặn bất kỳ nguy cơ khủng hoảng nợ Mỹ và khủng hoảng tài chính toàn cầu nào”.

Nhật Bản và bài toán đồng yen

Nhật Bản là nước nắm giữ nhiều trái phiếu Chính phủ Mỹ nhất trong số các chủ nợ nước ngoài. Theo số liệu của Bộ Tài chính Mỹ, tính đến tháng 6, Nhật Bản sở hữu 1.110 tỷ USD trái phiếu Kho bạc Mỹ. Con số này gần như không thay đổi so với một năm trước, nhưng đã giảm từ mức 1.230 tỷ USD hồi tháng 1.

Đây là số liệu về lượng chứng khoán được lưu ký, nghĩa là chủ sở hữu cuối cùng của các tài sản này không nhất thiết là các nhà đầu tư Nhật Bản, mà có thể bao gồm cả nhà đầu tư công và tư nhân. Dù vậy, lượng trái phiếu Nhật Bản nắm giữ đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản cũng đang tăng, tạo ra những lựa chọn hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong nước.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm hiện ở mức 2,8%, cao nhất trong 3 thập niên và cách rất xa mức lãi suất gần 0% từng duy trì trong nhiều năm. Trong thời gian dài, các nhà đầu tư Nhật Bản có thể vay bằng đồng yen với chi phí thấp để mua trái phiếu Kho bạc Mỹ có lợi suất cao hơn. Tuy nhiên, cách tính toán này có thể đang thay đổi, qua đó làm suy yếu vị thế của Nhật Bản với tư cách chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ.

Đây cũng là một phần bối cảnh dẫn tới động thái can thiệp chung chưa từng có của giới chức Mỹ và Nhật Bản vào cuối tháng 7 nhằm hỗ trợ đồng yen. Đồng nội tệ Nhật Bản suy yếu quá mức cũng có thể gây bất ổn cho thị trường trái phiếu Mỹ nếu Tokyo buộc phải bảo vệ đồng yen bằng cách bán lượng dự trữ bằng USD để mua yen.

“Một đợt bán tháo ở Nhật Bản có thể trở thành một đợt bán tháo ở Mỹ”, Judith Arnal, chuyên gia nghiên cứu cấp cao tại Viện Hoàng gia Elcano, nhận định. “Nếu đồng yen giảm giá mạnh buộc giới chức Nhật Bản phải can thiệp, một trong những cách để có được lượng USD cần thiết là bán các tài sản dự trữ, trong đó có trái phiếu Kho bạc Mỹ. Một cú sốc bắt đầu từ thị trường ngoại hối Nhật Bản cuối cùng có thể làm tăng chi phí vay của Mỹ.”

Tuy nhiên, theo chuyên gia Nadia Gharbi tại Pictet Wealth Management, “dù có thể dự báo mức phí rủi ro đối với nợ Mỹ sẽ tăng về mặt cơ cấu, vị thế của đồng USD với tư cách đồng tiền dự trữ của thế giới và chiều sâu của các thị trường vốn Mỹ vẫn mang lại cho nước này dư địa tài chính đáng kể”. Bà nói thêm: “Chúng tôi không dự báo một cuộc khủng hoảng nợ công mang tính hệ thống sắp xảy ra tại Mỹ.”

Trung Quốc giảm nắm giữ, nhưng Mỹ vẫn có lợi thế

Trái phiếu Kho bạc Mỹ vẫn là tài sản trú ẩn an toàn chuẩn mực của hệ thống tài chính toàn cầu, nhưng sức hấp dẫn của chúng đã giảm đối với một số nhà đầu tư. Vấn đề nằm ở chỗ bất kỳ đợt bán tháo đáng kể nào cũng có thể gây ra những tác động vượt xa phạm vi nước Mỹ.

Anh là nước nắm giữ trái phiếu Chính phủ Mỹ lớn thứ hai ở nước ngoài, với 939,9 tỷ USD. Tuy nhiên, con số này phần lớn phản ánh hoạt động lưu ký thông qua các tổ chức tài chính tại khu tài chính London, một trong những trung tâm tài chính lớn nhất thế giới. Điều đó không có nghĩa Chính phủ Anh là chủ nợ lớn thứ hai của Washington.

Trung Quốc đứng thứ ba, với 633 tỷ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ, giảm gần 100 tỷ USD trong một năm qua.

“Việc Trung Quốc giảm nắm giữ rõ ràng là một xu hướng dài hạn, dù nước này không bán ra hàng tháng”, chuyên gia Judith Arnal nói. “Trung Quốc có cả lý do địa chính trị và tài chính để đa dạng hóa. Giảm phụ thuộc vào đồng USD giúp nước này giảm mức độ dễ bị tác động bởi các quyết định chính sách của Mỹ cũng như việc hệ thống tài chính có thể được sử dụng như một công cụ gây sức ép.”

Bắc Kinh vẫn là đối thủ chính của Washington trong cuộc cạnh tranh về vị thế kinh tế và công nghệ toàn cầu. Tuy nhiên, những chỉ trích của Tổng thống Donald Trump về thâm hụt thương mại của Mỹ, được cho là liên quan tới Trung Quốc, cũng có một mặt khác về tài chính: Mỹ đã có thể tài trợ cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của lĩnh vực công nghệ và thị trường chứng khoán, phần lớn nhờ nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.

Trong nhiều thập niên, Mỹ đã tiết kiệm ít hơn mức đầu tư. Nếu không có nguồn vay từ nước ngoài, thu nhập của người Mỹ sẽ thấp hơn so với hiện nay sau khi tính đến các khoản lãi phải trả cho các chủ nợ nước ngoài.

Dù vậy, bà Arnal nhấn mạnh rằng Chính phủ Mỹ chủ yếu vẫn được tài trợ từ nguồn vốn trong nước. Khoảng 70% nợ liên bang do công chúng nắm giữ thuộc về các nhà đầu tư trong nước, trong khi khoảng 30% thuộc về các chủ thể nước ngoài.

“Con số này không bao gồm các khoản nợ giữa các cơ quan liên bang, nhưng bao gồm trái phiếu Kho bạc do Cục Dự trữ Liên bang sở hữu”, bà nói. “Do đó, không chính xác nếu mô tả Mỹ là một quốc gia chủ yếu được tài trợ bởi Trung Quốc hoặc Nhật Bản".

Thu Hằng/Báo Tin tức và Dân tộc