04:22 21/04/2026

Thúc đẩy minh bạch thị trường tái chế trong kinh tế tuần hoàn

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, các chuyên gia đề xuất sớm hoàn thiện khung pháp lý cho giao dịch hàng hóa tái chế có truy xuất số, thiết kế sinh thái và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Đây được xem là nền tảng nhằm minh bạch dữ liệu, nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn bền vững.

Minh bạch hóa giao dịch hàng hóa tái chế

Tại hội thảo quốc gia “Luật, Công lý và Phát triển” (LJDC 2026) diễn ra ngày 21/4 tại TP Hồ Chí Minh, do Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức, nhiều chuyên gia cho rằng việc xây dựng khung pháp lý cho giao dịch hàng hóa tái chế có truy xuất số là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi xanh và giảm phát thải. 

Chú thích ảnh
Các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo. 

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, giao dịch hàng hóa tái chế không chỉ đơn thuần là hoạt động chuyển giao tài sản mà còn gắn với việc ghi nhận, quản lý và giám sát dữ liệu về nguồn gốc, quy trình tái chế và lưu thông sản phẩm. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong kinh tế tuần hoàn.

Theo bà Mai, thực tiễn pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại khoảng trống trong điều chỉnh hoạt động này. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng chính quy hóa giao dịch hàng hóa tái chế có truy xuất số, đồng thời bảo đảm minh bạch thông tin và thúc đẩy phát triển bền vững thị trường tái chế.

Trong khi đó, ông Đặng Vũ Minh Hoàng, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh cho biết, ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt với yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ nhằm đáp ứng truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa vòng đời sản phẩm theo Quy định về thiết kế sinh thái cho sản phẩm bền vững (ESPR).

Theo ông Hoàng, dù Việt Nam đã có một số khung pháp lý như Nghị định 37/2026/NĐ-CP và Luật số 78/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, song thực tiễn cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa quy định và năng lực thực thi của doanh nghiệp, đặc biệt trong đáp ứng tiêu chuẩn môi trường quốc tế và minh bạch chuỗi cung ứng.

“Cần phải có các giải pháp để thúc đẩy việc minh bạch hóa thông tin sản phẩm thông qua hộ chiếu, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững cho ngành dệt may Việt Nam trong kỷ nguyên kinh tế tuần hoàn”, ông Đặng Vũ Minh Hoàng nhấn mạnh.

TS. Nguyễn Thái Cường, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thì tập trung phân tích tác động của vòng đời thiết bị điện tử ngày càng rút ngắn, dẫn đến gia tăng lượng rác thải và áp lực môi trường. Theo TS. Nguyễn Thái Cường, quyền được sửa chữa (Right to Repair - R2R) là công cụ quan trọng trong việc định hình lại quyền tài sản trong kinh tế tuần hoàn.

Do đó, TS. Cường cho rằng, cần nội luật hóa R2R nhằm tháo gỡ rào cản kỹ thuật, bảo vệ quyền tài sản và thúc đẩy chuyển đổi sang kinh tế xanh; cần thiết lập cơ chế ngoại lệ sở hữu trí tuệ có kiểm soát (sandbox), bảo đảm tuân thủ cam kết quốc tế.

Qua phân tích kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU) trong việc thiết lập ranh giới giữa quyền sở hữu trí tuệ của nhà sản xuất (OEM) và quyền tự định đoạt tài sản của người tiêu dùng, đối chiếu với pháp luật Việt Nam, TS. Nguyễn Thái Cường chỉ ra khoảng trống trong quản lý thị trường hậu mãi. Từ đó, ông đề xuất lộ trình nội luật hóa quyền được sửa chữa (R2R), góp phần tháo gỡ rào cản kỹ thuật, bảo vệ quyền tài sản và thúc đẩy chuyển đổi sang kinh tế xanh, phát triển bền vững.

Hoàn thiện thiết kế sinh thái và trách nhiệm doanh nghiệp

Theo TS. Ngô Minh Hải, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh, xây dựng khung pháp lý vững chắc gắn với giải pháp công nghệ là “chìa khóa” giúp doanh nghiệp chuyển từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Chú thích ảnh
Ngành dệt may tại Việt Nam đang đối mặt với những thách thức, yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ nhằm truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa vòng đời sản phẩm. Ảnh: Minh hoạ.

TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh thì nhấn mạnh vai trò ngày càng quan trọng của thiết kế sinh thái trong việc giảm thiểu tác động môi trường của sản phẩm. Trên cơ sở so sánh kinh nghiệm quốc tế, bà đề xuất Việt Nam cần nghiên cứu ban hành nghị định riêng về thiết kế sản phẩm tuần hoàn, tương tự các quy định của Liên minh châu Âu.

Theo đó, các nguyên tắc thiết kế cần hướng tới giảm sử dụng tài nguyên, tăng độ bền, khả năng sửa chữa, tái sử dụng và tái chế, đồng thời hạn chế vật liệu và hóa chất độc hại. Đối với các sản phẩm có nguy cơ gây ô nhiễm cao, cần quy định đánh giá vòng đời sản phẩm ngay từ giai đoạn thiết kế để kiểm soát tác động môi trường một cách toàn diện.

Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cần được xây dựng đồng bộ, tránh tình trạng phân tán theo từng lĩnh vực. Các nhóm sản phẩm như thiết bị điện - điện tử, bao bì, pin - ắc quy, dệt may và nhựa cần được ưu tiên xây dựng tiêu chuẩn thiết kế sinh thái và hướng dẫn kỹ thuật cụ thể.

Về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), TS. Nguyễn Thị Thu Trang đánh giá đây là công cụ quan trọng nhằm giảm thiểu chất thải và ô nhiễm, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Bà cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu áp dụng cơ chế điều chỉnh phí EPR theo đặc tính môi trường của sản phẩm (eco-modulation of fees), tương tự mô hình của Liên minh châu Âu.

Theo đó, mức phí EPR nên được xác định dựa trên khả năng tái chế, tái sử dụng và mức độ tác động môi trường của sản phẩm: thấp hơn đối với sản phẩm thân thiện môi trường, dễ tái chế; cao hơn đối với sản phẩm khó tái chế hoặc chứa vật liệu độc hại. Đồng thời, cần tăng cường yêu cầu minh bạch thông tin, trong đó doanh nghiệp công bố dữ liệu về thành phần vật liệu và khả năng tái chế nhằm hỗ trợ quản lý chất thải hiệu quả hơn.

TS. Nguyễn Thái Cường cũng đề xuất một số giải pháp như áp dụng cơ chế minh bạch thông tin thông qua chỉ số khả năng sửa chữa, nhãn sản phẩm xanh; rà soát hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; xác lập thị trường dịch vụ sửa chữa và linh kiện là thị trường độc lập để hạn chế hành vi độc quyền và bảo đảm tiếp cận linh kiện với chi phí hợp lý cho các chủ thể liên quan.

Bên cạnh đó, TS Cường cũng nhấn mạnh việc gắn quyền sửa chữa với các công cụ kinh tế và tiêu chuẩn môi trường như ESG, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và tín chỉ môi trường, qua đó biến tuân thủ thành lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn bền vững.

Ngoài ra, ông Đặng Vũ Minh Hoàng cũng khuyến nghị doanh nghiệp cần chuyển đổi tư duy quản trị từ “tuân thủ chi phí” sang “đầu tư chiến lược”, đồng thời nâng cao năng lực quản trị rủi ro công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế. Song song đó, cần hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu số và hộ chiếu sản phẩm, chuẩn hóa định dạng dữ liệu, quy trình xác thực và cơ chế chia sẻ thông tin. Việc phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung cấp ngành cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm tối ưu chi phí và nâng cao tính đồng bộ trong chuỗi cung ứng.

Theo Ban tổ chức, hội thảo năm nay có 183 tham luận bằng tiếng Việt và tiếng Anh, đóng vai trò diễn đàn kết nối giữa giới nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp. Các đề xuất tại hội thảo hướng tới mục tiêu Net Zero, đồng thời thúc đẩy chuyển giao tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần phát triển kinh tế TP Hồ Chí Minh và cả nước.
Bài và ảnh: Đan Phương/Báo Tin tức và Dân tộc