Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân Nguyễn Hoàng Linh cho biết, trong bối cảnh Việt Nam tái khởi động chương trình điện hạt nhân, hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao năng lực chuyên môn trong các lĩnh vực như đánh giá công nghệ, phân tích an toàn và tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát của cơ quan pháp quy là rất cần thiết.
Thời gian qua, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động hợp tác quốc tế và bảo đảm an ninh, an toàn hạt nhân.
Tại cuộc họp với Cơ quan Năng lượng hạt nhân (NEA) mới diễn ra, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân mong muốn học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia thành viên NEA trong việc xây dựng và duy trì hệ thống quản lý an toàn hạt nhân. Các lĩnh vực hợp tác tiềm năng hai bên hợp tác như: Tham gia các nhóm công tác, thực hiện đánh giá an toàn chung, tổ chức các hội thảo kỹ thuật và các chương trình đào tạo về quản lý an toàn trong suốt vòng đời nhà máy điện hạt nhân. Sự hợp tác với NEA không chỉ góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước mà còn đóng góp tích cực vào việc củng cố các chuẩn mực an toàn hạt nhân ở khu vực và toàn cầu.
Bên cạnh đó, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) hoàn thành các báo cáo trong thời điểm Việt Nam đang hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân, hướng tới cột mốc số 2. Phát triển điện hạt nhân là quá trình dài hạn, phức tạp, theo cách tiếp cận của IAEA, Việt Nam đang sẵn sàng cột mốc số 2 với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, pháp quy; Xây dựng năng lực chủ đầu tư và cơ quan pháp quy; Chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật, tài chính, môi trường; Phát triển nguồn nhân lực và cơ chế điều phối quốc gia.
Liên quan đến hợp tác an ninh, an toàn hạt nhân, sau buổi làm việc với Đoàn công tác của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) để đánh giá toàn diện cơ sở hạ tầng điện hạt nhân quốc gia (Intergrated Nuclear Infrastructure Review Mission – INIR Mission), dự kiến Việt Nam sẽ gửi lại Dự thảo Báo cáo đánh giá toàn diện cơ sở hạ tầng điện hạt nhân quốc gia Việt Nam (INIR) có điều chỉnh tới IAEA bởi trong quá trình phát triển điện hạt nhân, IAEA khuyến khích các quốc gia công bố Báo cáo INIR.
Trong quá trình phát triển điện hạt nhân, Việt Nam coi an toàn, an ninh và không phổ biến vũ khí hạt nhân là ưu tiên cao nhất, tích hợp xuyên suốt trong toàn bộ chính sách và hoạt động triển khai dự án điện hạt nhân. Đồng thời, Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong hoạch định chính sách, thiết lập khuôn khổ pháp lý - pháp quy, giám sát và điều phối tổng thể chương trình điện hạt nhân. Theo đó, với sự hỗ trợ của IAEA, kế hoạch tổng thể cơ sở hạ tầng điện hạt nhân năm 2026 là công cụ điều phối trung tâm, đảm bảo triển khai an ninh, an toàn hạt nhân.
Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục cập nhật Báo cáo quốc gia các Công ước an toàn hạt nhân. Công ước chung về an toàn quản lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và an toàn quản lý chất thải phóng xạ; nghiên cứu đề xuất tham gia Công ước Viên 1997 về bồi thường thiệt hại hạt nhân. Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy các hoạt động liên quan đến hoạt động thẩm định kỹ thuật nhà máy máy điện hạt nhân và đánh giá an toàn ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ vòng đời của nhà máy điện hạt nhân, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc nâng cao năng lực quản lý an toàn hạt nhân của Việt Nam theo thông lệ quốc tế.
Tại Việt Nam lợi ích từ ứng dụng hòa bình của năng lượng nguyên tử là rất rõ rệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, công nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu... Vì vậy, đại diện Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam khẳng định: Việt Nam luôn hợp tác chặt chẽ với IAEA và các đối tác quốc tế trong thực thi Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) và đang từng bước nội luật hóa, áp dụng các tiêu chuẩn, thực tiễn tốt của quốc tế vào công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh hạt nhân, thanh sát hạt nhân và ứng dụng hòa bình năng lượng nguyên tử.
Dự kiến hội nghị NPT RevCon 11 sẽ diễn ra từ 27/4 đến 22/5/2026, Việt Nam sẽ tiến hành các tham vấn tại châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, khu vựcTrung Đông và các nước, nhóm nước, đối tác quan trọng và các kết quả tham vấn sẽ được Việt Nam phối hợp với Liên hợp quốc tổng hợp, xây dựng thành các báo cáo tới các nước thành viên NPT vào thời điểm tổ chức hội nghị NPT năm 2026.
Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) được ký năm 1968, có hiệu lực từ năm 1970, hiện có 191 quốc gia thành viên. NPT đóng vai trò trung tâm trong các cơ chế không phổ biến, giải trừ quân bị quốc tế với 3 nội dung trụ cột gồm: Chống phổ biến vũ khí hạt nhân; Giải trừ vũ khí hạt nhân; Sử dụng công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình. Đến nay NPT là điều ước quốc tế mang tính toàn diện nhất, có sự tham gia của 5 nước sở hữu vũ khí hạt nhân được thừa nhận – cũng đồng thời là các nước Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nga và Trung Quốc. Việt Nam chính thức gia nhập NPT từ năm 1982.