Không gian phát triển được mở rộng mang đến cho Thành phố Hồ Chí Minh nguồn tài nguyên phong phú, từ đời sống đô thị, văn hóa công nghiệp đến bản sắc biển, di sản cách mạng và sinh hoạt cộng đồng đa dạng. Tuy nhiên, sự khác biệt về điều kiện kinh tế, hạ tầng và thiết chế giữa các khu vực cũng làm rõ hơn khoảng cách hưởng thụ văn hóa.
Do vậy, để đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị vào cuộc sống không chỉ là tổ chức thêm nhiều hoạt động mà cần phân bổ hợp lý nguồn lực, đổi mới phương thức phục vụ, bảo đảm người dân vùng ven, khu công nghiệp, khu dân cư mới đều có cơ hội tiếp cận những sản phẩm tinh thần chất lượng.
Khách tham quan một trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh (phường Sài Gòn). Ảnh tư liệu: TTXVN.
Nhận diện những “vùng trũng” văn hóa
Sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị có quy mô lớn, hội tụ nhiều không gian với đặc điểm khác nhau. Khu vực trung tâm có lợi thế về bảo tàng, nhà hát, thư viện, đường sách, rạp chiếu phim cùng nhiều chương trình nghệ thuật, lễ hội, sự kiện quốc tế… Các địa bàn thuộc Bình Dương trước đây mang đậm đặc trưng công nghiệp, tập trung đông công nhân và lao động nhập cư. Trong khi đó, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu có thế mạnh về biển, di tích lịch sử, tín ngưỡng và du lịch.
Sự đa dạng này tạo nền tảng hình thành một đô thị đa trung tâm, trong đó mỗi khu vực vừa giữ dấu ấn riêng, vừa bổ trợ cho tổng thể chung. Tuy nhiên, chênh lệch về hệ thống thiết chế, nguồn nhân lực và khả năng tổ chức hoạt động đang đặt ra yêu cầu phát triển cân bằng, không để nguồn lực tiếp tục tập trung chủ yếu tại một số địa bàn thuận lợi.
Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, sau hợp nhất, Thành phố có điều kiện thuận lợi để biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh thúc đẩy phát triển. Song, quy mô mới cũng đặt ra thách thức về gìn giữ bản sắc, nâng cao năng lực quản lý và tăng cường gắn kết cộng đồng.
Theo cơ quan này, khoảng cách về mức độ thụ hưởng giữa khu vực trung tâm với ngoại thành và các khu công nghiệp vẫn còn lớn. Trong khi các khu vực ở nội đô thường xuyên diễn ra chương trình nghệ thuật, lễ hội, sự kiện quốc tế, thì đời sống tinh thần của người dân tại các địa bàn ven, ngoại thành chưa được đáp ứng tương xứng.
Khoảng cách ấy không chỉ được đo bằng số lượng nhà văn hóa, sân khấu hay thư viện. Điều đáng quan tâm hơn là người dân có thể tiếp cận và sử dụng các thiết chế đó đến đâu; hoạt động có diễn ra thường xuyên, phù hợp với thời gian, điều kiện sống và nhu cầu của từng nhóm cư dân hay không.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai, giảng viên Khoa Lý luận cơ sở, Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, mô hình đa trung tâm không có nghĩa mọi nguồn lực đều tập trung vào một khu vực hạt nhân. Mỗi địa bàn cần phát huy đặc trưng riêng, đồng thời được kết nối trong mạng lưới chung để chia sẻ cơ sở vật chất, đội ngũ sáng tạo và sản phẩm phục vụ công chúng.
Thành phố cần quy hoạch không gian văn hóa theo hướng liên thông, xác định rõ vai trò của từng khu vực; tăng đầu tư cho thiết chế cơ sở, phát triển đời sống tinh thần của công nhân và nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm chất lượng đối với cư dân vùng ven. Đây là điều kiện để cấu trúc đa trung tâm không tạo thêm những “vùng trũng” trong quá trình phát triển.
Những hạn chế hiện nay thể hiện rõ tại các khu công nghiệp và nơi lưu trú của người lao động. Thạc sĩ Nguyễn Văn Hân, Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trở ngại lớn nhất đối với công nhân không chỉ là thiếu hoạt động mà còn là thiếu thời gian, không gian và điều kiện tham gia.
Để có thu nhập từ 8-9 triệu đồng mỗi tháng, một bộ phận người lao động phải tăng ca từ 2-4 giờ mỗi ngày. Sau 10-12 giờ làm việc với cường độ cao, quỹ thời gian dành cho thể thao, giải trí và giao lưu cộng đồng bị thu hẹp đáng kể. Điều kiện cư trú cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần. Khoảng 60-70% công nhân tại các khu công nghiệp là lao động nhập cư; hơn 90% trong số đó phải tìm chỗ ở tại những khu nhà trọ tự phát xung quanh nơi làm việc. Nhiều căn phòng có diện tích khoảng 12-15 m2 cho gia đình từ 3-4 người, thiếu không gian sinh hoạt chung và nơi vui chơi dành cho trẻ em.
Trong khi đất dành cho nhà xưởng, kho bãi được ưu tiên nhằm thu hút đầu tư thì quỹ đất xây dựng nhà trẻ, công viên, sân thể thao và điểm sinh hoạt cộng đồng tại một số nơi chưa được quan tâm tương xứng. Có khu công nghiệp tập trung hàng vạn lao động nhưng thiếu thiết chế hoạt động ổn định. Các chương trình biểu diễn lưu động dù có ý nghĩa vẫn thường diễn ra theo đợt, chưa đủ sức lấp đầy khoảng trống trong đời sống hằng ngày.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Nhứt, nguyên Trưởng khoa Quản lý hành chính, Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng đời sống cộng đồng tại các khu đô thị không thể chỉ dừng ở việc công nhận danh hiệu hay tổ chức phong trào. Điều cần quan tâm là mức độ tham gia thực chất của người dân và khả năng đáp ứng nhu cầu của từng địa bàn.
Chính quyền cơ sở cần phát huy vai trò tự quản của khu phố, ấp và cộng đồng dân cư; đổi mới cách đánh giá theo hướng chú trọng chất lượng môi trường sống, hiệu quả hoạt động và sự hài lòng của người dân. Cách tiếp cận này sẽ góp phần khắc phục biểu hiện hình thức, đưa các chương trình đến gần hơn với cuộc sống.
Phân bổ nguồn lực theo nhu cầu người dân
Tiết mục văn nghệ kết hợp biểu diễn Lân Sư Rồng tại buổi Lễ công bố quyết định về việc Nghệ thuật Lân Sư Rồng của người Hoa ở Thành phố được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, ngày 30/3/2025. Ảnh tư liệu: Thu Hương/TTXVN
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng sống. Từ tinh thần đó, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng phải được xem là một nội dung của quy hoạch, quản trị đô thị, không phải hoạt động bổ trợ được thực hiện sau khi những nhu cầu khác đã hoàn thành.
Từ góc độ nhà quản lý, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, muốn xây dựng chính sách phù hợp, trước hết phải có dữ liệu chính xác về thực trạng và nhu cầu. Việc thống kê không nên dừng ở số lượng công trình mà cần làm rõ mức độ sử dụng, đối tượng phục vụ và khả năng tiếp cận của cư dân tại từng địa bàn.
Từ yêu cầu này, Thành phố cần rà soát hệ thống thiết chế và nhu cầu hưởng thụ trên toàn không gian mới. Việc này không chỉ thể hiện vị trí nhà hát, bảo tàng, thư viện, công viên hay sân thể thao, mà còn phải phản ánh mật độ dân cư, cơ cấu nghề nghiệp, độ tuổi, thời gian lao động, điều kiện di chuyển và tần suất sử dụng thực tế. Đây cũng là cơ sở để phân bổ ngân sách, quỹ đất và nhân lực đúng địa chỉ, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, nặng về xây dựng nhưng chưa chú trọng vận hành.
Với khu công nghiệp, nhà văn hóa lao động, thư viện, sân thể thao, nhà trẻ và điểm sinh hoạt cộng đồng cần được bố trí gần nơi công nhân làm việc, cư trú. Những hạng mục này phải trở thành một phần trong quy hoạch khu sản xuất, nhà ở xã hội và khu lưu trú, thay vì được bổ sung khi quỹ đất gần như không còn.
Phương thức tổ chức cũng phải chuyển từ cung cấp những gì đơn vị đang có sang đáp ứng điều người dân thực sự cần. Với công nhân làm việc theo ca, chương trình không thể chỉ diễn ra trong giờ hành chính. Hoạt động chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật, thể thao, lớp kỹ năng hoặc tư vấn tâm lý cần có lịch linh hoạt và được đưa đến nhà máy, khu lưu trú, điểm sinh hoạt gần nơi ở.
Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất tăng đầu tư cho thiết chế cơ sở, phát triển văn hóa công nhân, nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm chất lượng đối với người dân vùng ven và khu vực khó khăn. Cùng với đó là đẩy mạnh số hóa di sản, phát triển “nền tảng văn hóa số toàn dân” kết hợp với các mô hình bảo tàng mở, sân khấu di động, thư viện số và không gian trực tuyến.
Thu hẹp khoảng cách hưởng thụ không có nghĩa mọi địa bàn phải sở hữu hệ thống công trình giống nhau. Mỗi trung tâm có thể phát triển từ thế mạnh riêng: khu vực nội đô là đầu mối nghệ thuật, sáng tạo và hội nhập; không gian công nghiệp chú trọng đời sống công nhân; vùng ven biển phát huy di sản, tín ngưỡng và du lịch; các xã nông thôn, địa bàn chuyển tiếp dựa trên lịch sử cùng sức mạnh cộng đồng.
Điều quan trọng là những không gian ấy được kết nối và không để nơi cư trú quyết định cơ hội tiếp cận đời sống tinh thần của mỗi người. Khi công nhân sau giờ làm có nơi sinh hoạt, trẻ em vùng ven thường xuyên được tiếp xúc với sách và nghệ thuật, người dân địa phương được tham gia kể câu chuyện di sản của chính mình, chủ trương phát triển văn hóa mới thực sự đi vào cuộc sống.
Đó cũng là cách Thành phố Hồ Chí Minh cụ thể hóa Nghị quyết 80, không chỉ đầu tư những công trình quy mô hoặc tổ chức các sự kiện lớn, mà bảo đảm quyền tham gia, sáng tạo và thụ hưởng của mọi người dân. Từ đó, nâng cao chất lượng sống, tăng cường gắn kết cộng đồng và định hình một đô thị đa trung tâm văn minh, hiện đại, nghĩa tình.