08:15 24/08/2026
Chiều 24/8, với 473/476 đại biểu có mặt tán thành, chiếm 94,6% tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Ảnh: An Đăng/TTXVN
Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với dự án Luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn trình bày cho thấy, đối với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bổ sung thêm tại khoản 3 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 dự thảo Luật) quy định: “Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thanh tra, giám sát các đối tượng thanh tra, giám sát quy định tại khoản này theo quy định của pháp luật nhằm xác định rõ các tổ chức tín dụng được áp dụng tỷ lệ an toàn khác theo quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước phải chịu sự thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước và pháp luật có liên quan”.
Ngoài ra, để đảm bảo đồng bộ, thống nhất quy định giữa Luật Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Ngoại hối, Chính phủ đề xuất bãi bỏ quy định tại khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh Ngoại hối, theo đó, chỉnh lý khoản 2 Điều 4 dự thảo Luật như sau: “2. Bãi bỏ Điều 22 và khoản 2 Điều 34 của Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13”.
Đối với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền, để làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành khác, thống nhất với quy định về trách nhiệm Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ... và nguyên tắc thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng, chống rửa tiền trên cơ sở rủi ro, dự thảo Luật điều chỉnh khoản 18 Điều 2 (sửa đổi bổ sung khoản 2 Điều 59), cụ thể như sau: “2. Kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo đó”.
Giải trình về nguyên tắc xử lý chênh lệch thu, chi của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xử lý phù hợp, đảm bảo thống nhất giữa Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Ngân sách nhà nước.
Liên quan đến tiêu chí xác định “để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”, giới hạn phạm vi, điều kiện và thời hạn áp dụng, xác định lộ trình đưa các tỷ lệ về ngưỡng quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước (được bổ sung tại khoản 10 Điều 1 dự thảo Luật), tùy từng thời kỳ, danh mục các dự án quan trọng, trọng điểm để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội sẽ tiếp tục được điều chỉnh. Do vậy, việc hướng dẫn tiêu chí xác định trường hợp “để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” là không khả thi, không đảm bảo tính bao quát.
Bên cạnh đó, phạm vi, điều kiện và thời hạn áp dụng phụ thuộc vào các tình huống cụ thể; do vậy, việc quy định trong luật nội dung về phạm vi, điều kiện và thời hạn áp dụng là không đảm bảo với điều kiện thực tế phát sinh. Về xác định lộ trình để bảo đảm tuân thủ tỷ lệ bảo đảm an toàn chung, dự thảo Luật đã có quy định về việc đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng phải xây dựng và thực hiện lộ trình để bảo đảm tuân thủ mức quy định.
Liên quan đến việc bãi bỏ quy định về chức năng kiểm tra của Bộ Tài chính tại Luật Ngân hàng Nhà nước, theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, việc bãi bỏ không ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành của Bộ Tài chính; đồng thời, pháp luật hiện hành đã có các cơ chế giám sát khác thay thế (như Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ, kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước), không làm phát sinh khoảng trống trong quản lý và kiểm tra.
Liên quan đến tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành có hướng dẫn cụ thể các tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, lượng hóa tối đa tiêu chí quyền kiểm soát thực tế. Chính phủ sẽ chỉ đạo chỉnh sửa khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi tại Luật Doanh nghiệp để đảm bảo thống nhất. Bên cạnh đó, liên quan đến trách nhiệm của đối tượng báo cáo, dự thảo Luật xây dựng quy định nghĩa vụ tương ứng quy mô, mức độ rủi ro của từng loại đối tượng báo cáo phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro theo cách tiếp cận dựa trên rủi ro đã được áp dụng xuyên suốt trong Luật Phòng, chống rửa tiền hiện hành.
Liên quan đến việc rà soát, hoàn thiện quy định về ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm của các bên, điều kiện, tiêu chí, nội dung hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm tại các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán, doanh nghiệp (liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng và riêng lẻ).
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng bổ sung “dịch vụ tài sản mã hóa” vào diện phòng, chống rửa tiền. Đối tượng báo cáo có trách nhiệm báo cáo giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch là tài sản do phạm tội mà có.
Luật quy định cụ thể 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa cần theo dõi như chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn mức quy định về nhận biết khách hàng hoặc về báo cáo theo quy định hoặc thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng; chuyển đổi tài sản mã hóa sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau mà không có mục đích kinh doanh, đầu tư hợp lý…
Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính và các bộ, ngành trong hoạt động phòng, chống rửa tiền và nguyên tắc thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng, chống rửa tiền trên cơ sở rủi ro. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12/2026.
Chu Thanh Vân (TTXVN)
|