Trong bối cảnh thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất dày hơn, cường độ mạnh hơn và phạm vi tác động rộng hơn, công tác phòng, chống thiên tai ở Việt Nam cũng đang chuyển mạnh từ tư duy “ứng phó” sang “quản trị rủi ro”, lấy phòng ngừa chủ động làm trọng tâm.
Đây không chỉ là yêu cầu cấp bách trước thực tiễn thiên tai khốc liệt mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm phát triển bền vững.
Cống Cồn Tư tại Km5+220 đê cửa sông hữu sông Hồng được xác định là một trong những hạng mục quan trọng của Dự án xử lý sạt lở, thẩm lậu các tuyến đê sông (Ninh Bình). Trong ảnh: Công trường thi công xây dựng cống Cồn Tư, xã Giao Hòa, ngày 18/5/2026. Ảnh: Công Luật/TTXVN
Thiên tai ngày càng cực đoan, khó lường
Những năm gần đây, Việt Nam liên tục phải đối mặt với nhiều hình thái thiên tai bất thường. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2021-2025, trung bình mỗi năm nước ta chịu khoảng 10-12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới cùng hàng trăm đợt mưa lớn, lũ lụt và sạt lở đất. Chỉ trong 5 năm, thiên tai đã khiến hơn 1.500 người chết và mất tích.
Năm 2025 được đánh giá là một trong những năm thiên tai dị thường nhất trong lịch sử khí tượng thủy văn nước ta. Chỉ riêng trên Biển Đông đã ghi nhận 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, mức cao nhất từ trước đến nay. Nhiều đợt mưa lớn cực đoan gây lũ vượt mức lịch sử trên hàng chục tuyến sông ở Bắc Bộ và Trung Bộ; triều cường tại hạ lưu sông Tiền, sông Hậu đạt mức kỷ lục; hàng loạt đô thị và vùng trũng thấp bị ngập sâu kéo dài.
Theo thống kê, thiên tai trong năm 2025 đã làm 484 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế khoảng 104.000 tỷ đồng. Những con số đó cho thấy mức độ tàn phá ngày càng nghiêm trọng của thiên tai dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Không chỉ gia tăng về quy mô, thiên tai còn xuất hiện với nhiều đặc điểm mới. Tại khu vực miền núi, lũ quét và sạt lở đất xảy ra nhanh, phạm vi hẹp nhưng hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Ở các đô thị lớn, mưa cực đoan gây ngập úng chỉ trong thời gian ngắn. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hạn hán và xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của người dân.
Các chuyên gia khí tượng thủy văn nhận định, thiên tai hiện nay không còn diễn ra theo quy luật quen thuộc mà ngày càng chồng lấn, liên hoàn, vượt xa các kịch bản truyền thống. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ cách tiếp cận trong công tác phòng, chống thiên tai.
Hồ Cánh Tạng sẽ điều tiết nguồn nước để cấp nước tưới cho khoảng 6.460 ha đất canh tác của 13 xã thuộc hai huyện Lạc Sơn và Yên Thủy, tỉnh Phú Thọ (tỉnh Hòa Bình cũ). Ảnh minh họa: Trọng Đạt/TTXVN
Từ “ứng phó” sang “quản trị rủi ro”
- Hoàn thiện tư duy quản trị rủi ro thiên tai
Một trong những thay đổi quan trọng trong công tác phòng, chống thiên tai hiện nay của Việt Nam là chuyển từ tư duy “ứng phó khi thiên tai xảy ra” sang chủ động phòng ngừa và quản trị rủi ro.
Tinh thần này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 116/NQ-CP của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 213-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
Theo đó, công tác phòng, chống thiên tai không chỉ dừng ở cứu hộ, cứu nạn hay khắc phục hậu quả sau thiên tai mà phải được lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư hạ tầng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý, Chính phủ cũng yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng; gắn trách nhiệm người đứng đầu với hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai.
Trong giai đoạn 2026-2030, nhiều nhiệm vụ lớn sẽ được triển khai như hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống thiên tai; thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, giám sát thiên tai.
Phát biểu tại Lễ phát động Tuần lễ quốc gia phòng, chống thiên tai năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, Việt Nam không thể chỉ tìm cách “chống” lại thiên tai mà phải chuyển mạnh sang chủ động quản lý rủi ro, thích ứng và sống an toàn với thiên tai.
- Chủ động nhận diện rủi ro ngay từ cơ sở
Cùng với đổi mới tư duy quản trị, yêu cầu chủ động nhận diện rủi ro thiên tai ngay từ cơ sở cũng đang được đặt ra ngày càng rõ nét. Trong Văn bản hợp nhất số 33/VBHN-BNNMT hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề cập đến việc xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai, qua đó giúp chính quyền địa phương nhận diện chính xác các vùng nguy cơ cao xảy ra thiên tai, để có phương án quản lý, ứng phó hiệu quả.
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương phải rà soát khu vực nguy hiểm, xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai theo từng loại hình cụ thể, cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu và chuẩn bị phương án ứng phó phù hợp. Các xã, phường được yêu cầu xác định khu vực có nguy cơ sạt lở đất, lũ quét, ngập úng; chuẩn bị phương án sơ tán dân cư; dự trữ vật tư, nhu yếu phẩm và tổ chức diễn tập thường xuyên để nâng cao kỹ năng ứng phó cho người dân.
Theo các chuyên gia, nếu nguy cơ được nhận diện sớm và có phương án ứng phó cụ thể từ cơ sở, thiệt hại về người và tài sản có thể giảm đáng kể.
Cán bộ Trạm khí tượng Mẫu Sơn, Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lạng Sơn ghi các số liệu tại Trạm. Ảnh tư liệu: Anh Tuấn/TTXVN.
- Công nghệ trở thành “tuyến phòng thủ” đầu tiên
Trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan, dự báo và cảnh báo sớm được xem là “tuyến phòng thủ” đầu tiên để bảo vệ người dân.
Trước yêu cầu thực tiễn, ngành khí tượng thủy văn đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), viễn thám và mô hình dự báo số.
Các mô hình học máy hiện đã giúp cải thiện khả năng dự báo cường độ bão từ 10-20% trong ngắn hạn. Hệ thống nhận dạng bão tự động từ dữ liệu vệ tinh đạt độ chính xác trên 90%. Trong dự báo dông, lốc, hệ thống tích hợp dữ liệu từ vệ tinh, radar, định vị sét và trạm đo mưa có thể cảnh báo sớm trước từ 30 phút đến 3 giờ với độ chính xác khá cao.
Đặc biệt, các nền tảng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất theo thời gian thực đã được triển khai tới cấp xã, giúp nâng cao khả năng ứng phó tại cơ sở. Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, hiện đại hóa hệ thống quan trắc và phát triển nền tảng cảnh báo sớm đa thiên tai đang được thúc đẩy mạnh.
Theo các chuyên gia, mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số trong lĩnh vực khí tượng thủy văn không chỉ là nâng cao độ chính xác dự báo mà còn phải đưa thông tin cảnh báo đến người dân nhanh nhất, dễ tiếp cận nhất thông qua điện thoại thông minh, nền tảng số và hệ thống truyền thông đa kênh.
Trong nhiều tình huống, chỉ cần cảnh báo sớm trước vài chục phút cũng có thể giúp người dân sơ tán khỏi khu vực nguy hiểm, giảm đáng kể thiệt hại về người và tài sản. Điều này cho thấy công nghệ không chỉ hỗ trợ dự báo mà đang trở thành công cụ quan trọng giúp nâng cao năng lực phòng ngừa và thích ứng trước thiên tai.
- Cộng đồng là trung tâm của phòng ngừa và ứng phó
Bên cạnh công nghệ và hạ tầng, cộng đồng vẫn là yếu tố giữ vai trò trung tâm trong công tác phòng, chống thiên tai. Tuần lễ quốc gia phòng, chống thiên tai năm 2026 được tổ chức với chủ đề “Cộng đồng chung tay phòng, chống thiên tai”, nhấn mạnh vai trò của người dân trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai và xây dựng năng lực chống chịu từ cơ sở.
Thực tế cho thấy, trong nhiều tình huống khẩn cấp, chính cộng đồng địa phương là lực lượng đầu tiên hỗ trợ nhau trước khi lực lượng chuyên nghiệp tiếp cận hiện trường. Tại nhiều địa phương miền núi, người dân đã chủ động sơ tán, hỗ trợ di dời tài sản và phối hợp cứu hộ khi xảy ra lũ quét, sạt lở đất.
Tại tỉnh Thái Nguyên - nơi được chọn tổ chức lễ phát động Tuần lễ quốc gia phòng, chống thiên tai năm nay - công tác nâng cao kỹ năng ứng phó, xây dựng phương án sơ tán dân cư và củng cố lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai ở cơ sở đang được đặc biệt chú trọng sau nhiều đợt thiên tai lớn xảy ra trong các năm 2024 và 2025.
Các công nhân thi công phần kè mái kênh hạ lưu cống Cồn Năm. Ảnh tư liệu: Công Luật/TTXVN.
Theo các chuyên gia, khả năng chống chịu trước thiên tai không chỉ phụ thuộc vào hệ thống cảnh báo hay lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp mà còn phụ thuộc vào sự chủ động của từng người dân và mức độ sẵn sàng của cộng đồng tại chỗ. Khi mỗi người dân có kiến thức, mỗi gia đình có kỹ năng ứng phó và mỗi cộng đồng có sự liên kết chặt chẽ, sẽ hình thành “lá chắn” vững chắc trước thiên tai.
Thiên tai là hiện tượng tự nhiên không thể ngăn chặn hoàn toàn, nhưng thiệt hại hoàn toàn có thể giảm thiểu nếu có sự chuẩn bị chủ động và sự chung tay của toàn xã hội.
Trong cuộc chiến với thiên tai, sự chủ động luôn là yếu tố quyết định. Và chỉ khi cả hệ thống chính trị, các nhà khoa học, doanh nghiệp và từng người dân cùng hành động, Việt Nam mới có thể nâng cao năng lực thích ứng, giảm thiểu thiệt hại và phát triển bền vững trước những thách thức ngày càng lớn của biến đổi khí hậu.