08:12 05/08/2026

Tháo gỡ điểm nghẽn, mở đường cho xuất khẩu nông lâm thủy sản vượt 74 tỷ USD

Duy trì đà tăng trưởng nhưng đối mặt nhiều sức ép từ thị trường quốc tế, ngành nông nghiệp đang tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn trong sản xuất, chế biến, logistics và thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu xuất khẩu nông lâm, thủy sản vượt 74 tỷ USD năm 2026.

Chú thích ảnh
Phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn là một trong những giải pháp quan trọng để tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao giá trị chuỗi nông sản xuất khẩu.

Tăng trưởng duy trì nhưng còn nhiều điểm nghẽn

Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, cạnh tranh thương mại gia tăng, các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh và giảm phát thải nhưng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng. Tuy nhiên, kết quả đạt được cũng cho thấy nhiều vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững hơn.

Theo báo cáo của ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sản xuất nông, lâm, thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định, tạo nguồn cung cho hoạt động xuất khẩu. Sản xuất lúa Đông Xuân hoàn thành với năng suất tăng, sản lượng đạt khoảng 20,45 triệu tấn; sản lượng gỗ khai thác tăng 4,5% so với cùng kỳ; tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 4,95 triệu tấn, tăng 3,6%, trong đó nuôi trồng tiếp tục là động lực tăng trưởng chính.

Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2025; cán cân thương mại duy trì xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD. Ước tính 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5%, tiếp tục duy trì nền tảng để ngành hướng tới mục tiêu cả năm.

Một số ngành hàng tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực chẳng hạn như rau quả đạt 3,65 tỷ USD, tăng 17,7% (riêng sầu riêng đạt 950,7 triệu USD, tăng 31,1%); thủy sản đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,54 tỷ USD (tăng 4,4%) tiếp tục là nhóm hàng có giá trị xuất siêu lớn.

Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu vẫn cho thấy những điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Một số mặt hàng dù tăng về sản lượng nhưng giảm về giá trị do biến động thị trường, chẳng hạn như cà phê tăng 9,7% về lượng nhưng giá trị chỉ đạt 4,78 tỷ USD, giảm 14,4% do giá xuất khẩu bình quân giảm 22%; gạo đạt 2,38 tỷ USD, giảm 2,5% do nguồn cung thế giới dư thừa và cạnh tranh giá gia tăng; cao su, chè cũng chịu tác động tương tự.

Theo ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả đạt được trong thời gian qua phản ánh nỗ lực lớn của người sản xuất, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, địa phương và cơ quan quản lý trong điều kiện thị trường quốc tế nhiều biến động.

Tuy nhiên, ông cho rằng ngành chưa thể hài lòng khi tăng trưởng vẫn chưa thật sự đồng đều và bền vững. Một số ngành hàng còn phụ thuộc vào một vài thị trường lớn; liên kết giữa vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu ở nhiều nơi chưa chặt chẽ; khả năng đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường quốc tế vẫn còn khoảng cách.

Những hạn chế này càng rõ hơn khi các thị trường nhập khẩu liên tục nâng cao tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chống phá rừng, giảm phát thải và tiêu chuẩn xanh. Các quy định mới như yêu cầu liên quan đến chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đang đặt ra yêu cầu cao hơn đối với toàn bộ chuỗi sản xuất.

Bên cạnh đó, chi phí logistics, năng lực chế biến sâu, khả năng dự báo thị trường và mức độ chủ động của doanh nghiệp trong xây dựng chuỗi cung ứng cũng là những vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Khi các lợi thế về sản lượng không còn đủ để tạo sức cạnh tranh, việc nâng cao chất lượng, minh bạch thông tin và tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường trở thành yêu cầu cấp thiết đối với từng ngành hàng.

Chú thích ảnh
Ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại hội nghị mới đây.

Gỡ nút thắt chuỗi giá trị, nâng sức cạnh tranh dài hạn

Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành khoảng 4% và kim ngạch xuất khẩu trên 74 tỷ USD trong năm 2026, ngành nông nghiệp không chỉ cần duy trì tốc độ tăng trưởng mà quan trọng hơn là tháo gỡ các điểm nghẽn đang cản trở khả năng cạnh tranh.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, tư duy phát triển cần chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Điều này đòi hỏi sản xuất phải được tổ chức lại theo tín hiệu thị trường, thay vì chỉ tập trung vào khả năng cung ứng. Chuỗi giá trị từ giống, vùng nguyên liệu, sản xuất, thu mua, chế biến, bảo quản, logistics đến phân phối và xúc tiến thương mại cần được kết nối chặt chẽ hơn nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Chú thích ảnh
Thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam theo khu vực.

Bộ trưởng nhấn mạnh, doanh nghiệp phải giữ vai trò trung tâm trong tổ chức thị trường và liên kết chuỗi; người nông dân, ngư dân và hợp tác xã là nền tảng sản xuất; hiệp hội ngành hàng đóng vai trò cầu nối; còn Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, cung cấp thông tin, tiêu chuẩn hóa sản xuất và tháo gỡ các điểm nghẽn.

Một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng sang các thị trường có yêu cầu cao như Nhật Bản, EU và những khu vực còn nhiều tiềm năng như thị trường Halal. Với thị trường Trung Quốc, dù vẫn là thị trường lớn và nhiều dư địa, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tận dụng nhu cầu sang chủ động đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và tổ chức sản xuất ổn định.

Cùng với mở rộng thị trường, việc xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn thông qua phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, nâng cao năng lực chế biến sâu, bảo quản, logistics, chuẩn hóa mã số vùng trồng, vùng nuôi và cơ sở đóng gói được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó, chuyển đổi số và hệ thống truy xuất nguồn gốc được xem là công cụ quan trọng giúp minh bạch chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực quản lý và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, để đạt mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD, các cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp cần đánh giá đúng thực trạng, nhận diện rõ các điểm nghẽn trong sản xuất, chế biến, logistics và thị trường để có giải pháp phù hợp.

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cũng yêu cầu các địa phương rà soát kế hoạch sản xuất, mùa vụ, năng lực chế biến, bảo quản, vận chuyển; kiểm soát chặt chẽ mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, chất lượng vật tư đầu vào, an toàn thực phẩm và gian lận xuất xứ.

Đối với doanh nghiệp, Bộ trưởng nhấn mạnh cần chủ động liên kết lâu dài với vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực quản trị rủi ro.

Chú thích ảnh
Sầu riêng xuất khẩu cho thấy tiềm năng lớn của nông sản Việt Nam, song cũng đặt ra yêu cầu về chuẩn hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và tổ chức lại chuỗi giá trị.

“Trái tim của doanh nghiệp nằm trong lồng ngực của doanh nghiệp, không nằm trong tay các cơ quan quản lý nhà nước”, ông Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, đồng thời cho rằng Nhà nước sẽ đồng hành trong tháo gỡ thể chế, mở cửa thị trường và cung cấp thông tin, nhưng doanh nghiệp phải là chủ thể quyết định năng lực cạnh tranh của chính mình.

Thông điệp này cũng cho thấy yêu cầu chuyển từ tư duy hỗ trợ đơn thuần sang đồng hành cùng doanh nghiệp trong xây dựng năng lực cạnh tranh thực chất. Khi những điểm nghẽn về chuỗi giá trị, chất lượng và thị trường được tháo gỡ, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản không chỉ hướng tới mục tiêu trên 74 tỷ USD trong năm 2026 mà còn tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp giá trị cao, minh bạch và bền vững.

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc