Kinh tế trang trại đang trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình chuyển nông nghiệp Phú Thọ từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. Thực tế cho thấy, khi đất đai được tổ chức hợp lý, vốn được đưa vào đúng mô hình, khoa học - công nghệ được ứng dụng phù hợp và sản phẩm gắn với thị trường, hiệu quả kinh tế có thể nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, để khu vực này thực sự trở thành động lực của nông nghiệp hàng hóa, nhiều điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, hạ tầng, liên kết chuỗi và đầu ra vẫn cần được tháo gỡ đồng bộ.
Hiệu quả từ những cách làm mới
Tỉnh Phú Thọ hiện có 1.234 trang trại đạt tiêu chí theo quy định, gồm 710 trang trại chăn nuôi, 308 trang trại tổng hợp, 124 trang trại trồng trọt, 76 trang trại thủy sản và 16 trang trại lâm nghiệp. Ảnh minh họa: TTXVN
Tỉnh Phú Thọ hiện có 1.234 trang trại đạt tiêu chí theo quy định, gồm 710 trang trại chăn nuôi, 308 trang trại tổng hợp, 124 trang trại trồng trọt, 76 trang trại thủy sản và 16 trang trại lâm nghiệp. Khu vực này tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao động địa phương, với mức thu nhập bình quân khoảng 5 - 8 triệu đồng/người/tháng.
Một trong những cách làm cho thấy hiệu quả rõ là tổ chức lại sản xuất, khai thác đất theo hướng đa giá trị. Gia đình anh Nguyễn Đức Thịnh, xã Xuân Viên có khoảng 16 ha đất, trước đây chủ yếu sản xuất lâm nghiệp. Do chu kỳ thu hoạch rừng kéo dài (7 - 8 năm), gia đình đã chuyển một phần diện tích sang đầu tư hạ tầng chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học, tạo thêm nguồn thu trong thời gian chờ khai thác rừng.
Năm 2014, anh Thịnh liên kết với các hộ dân trong vùng thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp Yên Lập chuyên chăn nuôi gà. Sản phẩm của hợp tác xã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Trung bình mỗi năm, đơn vị xuất bán hơn 40.000 con gà thịt và gần 700.000 quả trứng, tạo việc làm cho khoảng 10 lao động với thu nhập 7 - 10 triệu đồng/người/tháng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt khoảng 400 - 500 triệu đồng/năm.
Việc sử dụng đất linh hoạt giúp gia đình tạo thêm thu nhập trong chu kỳ lâm nghiệp dài; liên kết trong hợp tác xã giúp mở rộng quy mô hàng hóa, chuẩn hóa quy trình và nâng khả năng tiếp cận thị trường.
Khác với mô hình của anh Thịnh, mô hình của chị Trịnh Thị Hưng, xã Phú Khê lại cho thấy một hướng khác: tăng trưởng gắn với môi trường và kinh tế tuần hoàn. Trên diện tích gần 10 ha, gia đình lựa chọn sản xuất hữu cơ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để giảm chi phí và hạn chế ô nhiễm. Khoảng 9 ha được sử dụng trồng cây ăn quả và cỏ ngọt phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản. Chất thải chăn nuôi được xử lý bằng men vi sinh, tạo phân bón hữu cơ quay trở lại phục vụ trồng trọt.
Các khâu sản xuất được kết nối thành vòng tuần hoàn, phụ phẩm của khâu này trở thành đầu vào cho khâu khác, qua đó giảm chất thải và tiết kiệm chi phí. Sản phẩm đã được ký hợp đồng tiêu thụ với một số đơn vị tại Hà Nội, Lào Cai, nhờ đó đầu ra tương đối ổn định và giá bán cao hơn so với phương thức truyền thống.
Theo ông Đặng Ngọc Nga, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ, để phát triển kinh tế trang trại hiệu quả, bền vững, cần tập trung rà soát, điều tra, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của các trang trại, gia trại, từ đó tìm cách tháo gỡ vướng mắc. Đồng thời, cần đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là thủy lợi, giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, cơ sở công nghiệp chế biến và cơ sở sản xuất, cung ứng cây giống, con giống.
Gỡ điểm nghẽn, tạo dư địa phát triển chiều sâu
Trên thực tế, tại Phú Thọ đã xuất hiện hàng trăm mô hình hiệu quả nhưng chưa thực sự trở thành chiều sâu. Kinh tế trang trại tại Phú Thọ vẫn còn nhiều điểm nghẽn như: quy mô của nhiều cơ sở còn nhỏ; số trang trại tham gia liên kết chuỗi còn hạn chế; sản phẩm của không ít cơ sở vẫn phụ thuộc vào thương lái và thị trường tự do. Việc xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, áp dụng quy trình sản xuất an toàn ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu…
Đằng sau những hạn chế đó là bài toán về vốn và đất đai. Đầu tư công nghệ cần nguồn lực lớn, trong khi nhiều chủ trang trại khó tiếp cận tín dụng; đất sản xuất còn phân tán, thủ tục pháp lý ở một số trường hợp ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn và thế chấp vay vốn.
Ông Đặng Ngọc Nga, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ cho rằng, để kinh tế trang trại phát triển bền vững cần triển khai đồng bộ các giải pháp về cơ chế, chính sách, vốn, khoa học kỹ thuật, liên kết chuỗi giá trị và bảo vệ môi trường. Cùng với việc lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện từng vùng, cần tạo thuận lợi để chủ trang trại tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi, tháo gỡ khó khăn về thủ tục và tài sản bảo đảm để mở rộng đầu tư.
Dòng vốn vì thế cần ưu tiên những dự án có phương án khả thi, công nghệ phù hợp, kiểm soát môi trường và có đầu ra, để tín dụng thực sự trở thành đòn bẩy nâng chất lượng sản xuất. Với đất đai, tỉnh xác định tiếp tục rà soát quy hoạch, hình thành vùng trang trại tập trung; đẩy nhanh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khuyến khích dồn đổi, chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất, đồng thời đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất.
Tháo gỡ đất và vốn mới chỉ tạo điều kiện sản xuất; đích đến cuối cùng vẫn là thị trường. Trang trại vẫn dễ tổn thương nếu đầu ra phụ thuộc vào thương lái, giá cả biến động hoặc sản phẩm thiếu tiêu chuẩn và thương hiệu.
Phú Thọ đã có nền tảng để phát triển theo chuỗi. Toàn tỉnh hiện có 2.130 hợp tác xã; trong đó, có 1.148 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; 451 tổ hợp tác; xây dựng 686 vùng trồng tập trung với quy mô 82,8 nghìn ha và triển khai gần 210 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn đối với nhiều sản phẩm chủ lực. Liên kết chỉ bền vững khi lợi ích của các bên được bảo đảm và hợp đồng được tôn trọng. Thực tế vẫn có trường hợp người sản xuất nhận đầu tư ứng trước của doanh nghiệp nhưng khi giá ngoài thị trường tăng lại bán cho đơn vị khác, làm suy giảm niềm tin trong chuỗi giá trị.
Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, đơn vị sẽ tiếp tục tham mưu với tỉnh rà soát, ban hành chính sách tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp và liên kết sản xuất; bố trí nguồn lực phát triển hạ tầng, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với ứng dụng khoa học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và nâng sức cạnh tranh sản phẩm. Ngành cũng tăng cường vai trò quản lý trong giám sát việc ký kết hợp đồng giữa bên sản xuất và bên tiêu thụ, bảo đảm các bên tham gia liên kết bình đẳng, cùng có lợi.
Từ những mô hình đã được triển khai và chứng minh hiệu quả trong thực tiễn có thể thấy, trong giai đoạn tới, phát triển kinh tế trang trại ở Phú Thọ cần chuyển mạnh từ tư duy phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; trong đó, các tiêu chí như giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích đất, mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ, khả năng kiểm soát và bảo vệ môi trường, cùng với tính ổn định và bền vững của thị trường cần được xem là những thước đo quan trọng.
Khi hội tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết, kinh tế trang trại không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô sản xuất so với kinh tế hộ, mà còn có thể trở thành hạt nhân thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, phát triển công nghiệp chế biến, tạo thêm việc làm và nâng cao giá trị nông sản. Qua đó, kinh tế trang trại sẽ đóng góp ngày càng rõ nét vào quá trình xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.