08:06 09/08/2026

Tạo đà cho nông sản Việt - Bài 2: Nâng chất lượng sản xuất

Sau nhiều năm mở rộng thị trường, nông sản Việt Nam đang đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong chuỗi sản xuất. Chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế được xem là nền tảng để gia tăng giá trị và phát triển bền vững.

Chú thích ảnh
Chuẩn hóa vùng nguyên liệu, quản lý mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc đang trở thành nền tảng để nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu.

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu để nâng sức cạnh tranh

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng coi trọng chất lượng và tính minh bạch, lợi thế cạnh tranh của nông sản không còn được quyết định chủ yếu bởi sản lượng hay giá bán. Thay vào đó, khả năng kiểm soát quy trình sản xuất từ vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn và bảo đảm truy xuất nguồn gốc đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi ngành hàng.

Theo đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều thị trường xuất khẩu lớn đang liên tục cập nhật các quy định mới về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Những yêu cầu này không chỉ áp dụng đối với sản phẩm cuối cùng mà mở rộng đến toàn bộ quá trình sản xuất, từ vùng nguyên liệu, quy trình canh tác đến hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp.

Đối với ngành cà phê, việc triển khai Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) là một ví dụ cho thấy yêu cầu ngày càng cao về minh bạch chuỗi cung ứng. Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam, để tiếp tục xuất khẩu vào thị trường Liên minh châu Âu (EU), doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm không được sản xuất trên diện tích có nguồn gốc từ phá rừng sau thời điểm quy định, đồng thời bảo đảm đầy đủ dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Từ yêu cầu này, ngành nông nghiệp đang phối hợp với các địa phương đẩy mạnh số hóa vùng nguyên liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu và xác định tọa độ các vùng sản xuất. Việc hình thành hệ thống dữ liệu đồng bộ không chỉ giúp đáp ứng các quy định của thị trường nhập khẩu mà còn giúp nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính minh bạch và hỗ trợ doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo chuỗi.

Những yêu cầu ngày càng khắt khe với nông sản xuất khẩu

Vùng nguyên liệu đạt chuẩn
Mã số vùng trồng (MSVT)
Truy xuất nguồn gốc 
Kiểm dịch thực vật
Cơ sở đóng gói đạt chuẩn
Minh bạch dữ liệu sản xuất
Kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRLs)
Tuân thủ các quy định của thị trường nhập khẩu (EUDR, tiêu chuẩn EU...)

Không chỉ ngành cà phê, nhiều ngành hàng khác cũng đang đẩy nhanh quá trình chuẩn hóa vùng nguyên liệu. Đối với nhóm rau quả xuất khẩu, việc quản lý mã số vùng trồng (MSVT) ngày càng được coi trọng nhằm kiểm soát chất lượng ngay từ khâu sản xuất và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đắk Lắk, các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và quản lý mã số vùng trồng. Trong khi đó, tại một số địa phương vẫn còn tình trạng sử dụng mã số chưa đúng quy định hoặc chất lượng sản phẩm trong cùng vùng chưa đồng đều. Vì vậy, cần tăng cường quản lý, ứng dụng công nghệ số trong giám sát vùng nguyên liệu và nâng cao ý thức tuân thủ quy trình sản xuất để giảm rủi ro xuất khẩu.

Bên cạnh việc quản lý vùng nguyên liệu, nhiều hiệp hội ngành hàng cũng kiến nghị tiếp tục rà soát, cập nhật hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật. Theo bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, một số quy trình kỹ thuật được ban hành từ nhiều năm trước hiện không còn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn sẽ tạo cơ sở nâng cao chất lượng ngay từ khâu sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Chú thích ảnh
Khâu sơ chế, phân loại và đóng gói theo tiêu chuẩn giúp nâng cao chất lượng nông sản, gia tăng giá trị và đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Nâng chất lượng để gia tăng giá trị và mở rộng thị trường

Nếu việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu tạo nền tảng cho sản xuất thì nâng cao chất lượng sản phẩm chính là yếu tố quyết định khả năng gia tăng giá trị và mở rộng thị trường của nông sản Việt Nam. Trong bối cảnh các nước nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật, doanh nghiệp không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm mà còn phải xây dựng được hệ thống quản trị chất lượng xuyên suốt từ sản xuất đến chế biến, bảo quản và xuất khẩu.

Theo bà Hoàng Thị Liên, nhiều quy trình kỹ thuật hiện hành đã không còn theo kịp yêu cầu của thương mại quốc tế. Trong khi các thị trường liên tục cập nhật quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững thì một số quy chuẩn trong nước vẫn chưa được điều chỉnh tương ứng, khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình đáp ứng yêu cầu của đối tác.

Một trong những nội dung được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là quy định về mức dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật (MRLs). Với sự phát triển của công nghệ kiểm nghiệm, nhiều thị trường hiện có thể phát hiện dư lượng hóa chất ở ngưỡng rất thấp. Chỉ một chỉ tiêu vượt mức cho phép cũng có thể khiến cả lô hàng bị cảnh báo, trả về hoặc buộc tiêu hủy. Không chỉ gây thiệt hại kinh tế, những sự cố như vậy còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp và hình ảnh nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Chú thích ảnh
Chuyển đổi số trong quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Theo bà Liên, để thích ứng với bối cảnh mới, cần sớm rà soát, cập nhật các quy trình kỹ thuật sản xuất, đồng thời tăng cường hướng dẫn người dân sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định, kiểm soát tốt hơn quá trình canh tác và thu hoạch. Việc đồng bộ hóa các tiêu chuẩn trong nước với yêu cầu của thị trường quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Không chỉ dừng lại ở sản xuất nguyên liệu, nâng cao chất lượng còn gắn liền với việc gia tăng tỷ lệ chế biến sâu. Đây được xem là giải pháp quan trọng để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu sản phẩm thô, đồng thời nâng cao giá trị trên từng đơn vị hàng hóa.

Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, muốn nâng cao giá trị xuất khẩu, trước hết phải kiểm soát tốt chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu. Khi nguyên liệu ổn định về chất lượng và sản lượng, doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư vào chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và đáp ứng những phân khúc thị trường có giá trị cao hơn.

Ông Bình cho rằng, việc xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ giúp tạo nguồn nguyên liệu đồng đều, giảm tình trạng thu mua manh mún, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn với yêu cầu chất lượng ổn định. Đây cũng là điều kiện quan trọng để phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Song song với đó, chuyển đổi số đang trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho quá trình nâng cao chất lượng. Việc áp dụng nhật ký sản xuất điện tử, hệ thống truy xuất nguồn gốc, quản lý MSVT và cơ sở đóng gói trên nền tảng số không chỉ giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chuỗi cung ứng mà còn tạo niềm tin đối với các nhà nhập khẩu.

Theo đánh giá của nhiều hiệp hội ngành hàng, đầu tư cho chất lượng không còn là chi phí mà đã trở thành khoản đầu tư mang tính chiến lược. Những doanh nghiệp chủ động xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế và phát triển chế biến sâu thường có khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp, duy trì giá bán ổn định và giảm đáng kể rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.

Chú thích ảnh
Kiểm soát đồng bộ chất lượng từ vùng nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu giúp nông sản Việt Nam mở rộng thị trường và nâng cao giá trị gia tăng.

Có thể thấy, chuẩn hóa sản xuất và nâng cao chất lượng không chỉ giúp nông sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu mà còn tạo nền tảng để gia tăng giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, để quá trình này được triển khai đồng bộ, cùng với nỗ lực của doanh nghiệp và người sản xuất, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng môi trường thuận lợi cho đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển chuỗi giá trị. Đây là nền tảng để ngành nông nghiệp phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Bài cuối: Hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò doanh nghiệp

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc