01:16 27/01/2026

Tăng trưởng hai con số - tạo bước nhảy vọt về quy mô, năng lực và vị thế của nền kinh tế

Đại hội XIV của Đảng xác lập mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và phương thức tổ chức thực hiện.

Chú thích ảnh
Lắp ráp ô tô ở nhà máy của Công ty Cổ phần Kim Long Motor Huế, Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô (thành phố Huế). Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN

Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính) xung quanh việc phân tích những điều kiện nền tảng, cảnh báo các rủi ro của tăng trưởng; đồng thời, đưa ra các định hướng, giải pháp chính sách trọng tâm nhằm bảo đảm tăng trưởng cao đi đôi với ổn định và bền vững trong giai đoạn tới.

Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Ông nghĩ sao về mục tiêu này?

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030 là khát vọng chính đáng, xuất phát từ yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển đất nước. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, hội nhập quốc tế và cải thiện đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, nền kinh tế hiện đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, trong khi yêu cầu nâng cao chất lượng, năng suất và sức cạnh tranh ngày càng trở nên cấp bách.

Thực tiễn quốc tế cho thấy, để chuyển từ nhóm nước thu nhập trung bình lên nhóm nước thu nhập cao, các nền kinh tế thường phải trải qua những giai đoạn tăng trưởng nhanh, liên tục, có chất lượng. Nếu tăng trưởng chậm lại quá sớm, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình là hiện hữu. Trong bối cảnh đó, việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao không chỉ thể hiện khát vọng phát triển, mà còn là yêu cầu chiến lược nhằm tạo bước nhảy vọt về quy mô, năng lực và vị thế của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế đang mở ra những cơ hội mới thông qua tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển đổi số, chuyển dịch xanh và sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ.

Nếu tận dụng hiệu quả các cơ hội này, Việt Nam có thể hình thành các động lực tăng trưởng mới, bền vững hơn. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới là phù hợp với yêu cầu phát triển và bối cảnh mới.

Tuy nhiên, tăng trưởng hai con số cũng được đánh giá là rất thách thức. Theo ông, những rủi ro nào có thể phát sinh nếu theo đuổi tăng trưởng cao bằng mọi giá?

Tăng trưởng cao mang lại nhiều cơ hội, nhưng nếu theo đuổi bằng mọi giá, không gắn với năng lực thực chất của nền kinh tế, rủi ro là không nhỏ. Trước hết là nguy cơ lệch pha phát triển. Khi tốc độ tăng trưởng bị đẩy nhanh hơn khả năng quản trị và hấp thụ của nền kinh tế, các nguồn lực có thể bị phân bổ méo mó, tập trung vào những lĩnh vực tạo tăng trưởng ngắn hạn nhưng tiềm ẩn rủi ro cao, như bất động sản, tài chính hoặc đầu tư công dàn trải.

Thứ hai, tăng trưởng bằng mọi giá có thể làm suy yếu nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô. Việc nới lỏng quá mức chính sách tài khóa và tiền tệ để kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn có thể dẫn đến lạm phát cao, gia tăng thâm hụt ngân sách, nợ công và áp lực tỷ giá. Những bất ổn này, nếu tích tụ, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhà đầu tư và triển vọng tăng trưởng trung, dài hạn.

Thứ ba, chất lượng tăng trưởng có nguy cơ suy giảm. Nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên hoặc sử dụng lao động giá rẻ, nền kinh tế sẽ khó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Khi các động lực này suy yếu, nền kinh tế có thể đối mặt với những cú điều chỉnh mạnh, thậm chí suy thoái. Vì vậy, tăng trưởng cao cần được đặt trong khuôn khổ kỷ luật vĩ mô, kiểm soát rủi ro và gắn chặt với nâng cao năng lực nội sinh.

Ông đánh giá như thế nào về các "độ trễ năng lực" của nền kinh tế trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững?

Nhận diện đúng các độ trễ năng lực là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững. Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với một số độ trễ đáng chú ý.

Trước hết là độ trễ về nguồn nhân lực chất lượng cao. Dù lực lượng lao động dồi dào, nhưng chất lượng nhân lực, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế số, quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường còn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Thứ hai là độ trễ của khu vực doanh nghiệp trong nước. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính, công nghệ, quản trị còn hạn chế; khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu. Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với nhau và với khu vực FDI chưa đủ chặt chẽ để tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh về công nghệ và năng suất.

Bên cạnh đó là độ trễ về thể chế và thị trường. Mặc dù, môi trường kinh doanh đã được cải thiện, song vẫn còn rào cản về thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý. Thị trường vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, chưa phát triển tương xứng, hạn chế khả năng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực.

Cuối cùng là độ trễ về năng lực quản trị và điều hành trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phức tạp, biến động nhanh, kinh tế Việt Nam có độ mở lớn. Nếu không nâng cao năng lực dự báo, phân tích và phản ứng chính sách, việc điều hành tăng trưởng cao sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Phóng viên: Từ các độ trễ năng lực đã được nhận diện, theo ông, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần được thực hiện như thế nào để bảo đảm tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026-2030?

Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu mang tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026-2030. Mô hình tăng trưởng mới phải chuyển dứt khoát từ phụ thuộc vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên sang dựa chủ yếu vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Trọng tâm của quá trình này là nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức; đồng thời cơ cấu lại đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả, giảm dàn trải, kiểm soát chặt rủi ro.

Chỉ khi chuyển đổi mô hình tăng trưởng được triển khai một cách quyết liệt, nhất quán và có lộ trình rõ ràng, nền kinh tế mới hình thành được các động lực tăng trưởng mới, đủ sức nâng đỡ mục tiêu tăng trưởng cao đi đôi với ổn định và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Theo ông, phương hướng và các nhóm giải pháp trọng tâm nào cần được triển khai để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026-2030?

Về phương hướng chung, tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 cần được đặt trên nền tảng phát triển bền vững, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao năng lực nội sinh. Trọng tâm là chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Đại hội XIV của Đảng đã xác định 3 đột phá chiến lược cần tập trung trong giai đoạn 2026-2030, gồm đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó là chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng lao động; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đột phá cuối cùng là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức; hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển; hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu; hạ tầng văn hóa, giáo dục, thể thao.

Trên cơ sở ba đột phá chiến lược, Quốc hội và Chính phủ cần triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết và quan trọng nhất cần đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển.

Cùng với đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động, gắn cải cách giáo dục đào tạo với yêu cầu của kinh tế số và công nghiệp hiện đại; thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh tái cơ cấu mô hình tăng trưởng, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức; nâng cao hiệu quả đầu tư công và kiểm soát rủi ro từ phát triển nóng.

Bên cạnh đó, phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước và thị trường vốn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp năng lực, mở rộng quy mô, tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển thị trường vốn trung và dài hạn lành mạnh.

Giữ vững ổn định vĩ mô, nâng cao năng lực điều hành; hiện thực hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm kỷ luật tài khóa tiền tệ và chất lượng dự báo, quản trị rủi ro.

Tôi cho rằng, nếu các phương hướng và giải pháp này được triển khai đồng bộ, quyết liệt, nhất quán và hiệu quả, mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026 - 2030 có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa.

Xin cám ơn ông!

Thuý Hiền (Thực hiện)