04:19 13/04/2026

Tăng trưởng 2 con số - Bài 2: Nội lực là nền tảng

Trong bối cảnh biến động địa chính trị tại Trung Đông làm gia tăng áp lực lên giá năng lượng, chi phí logistics và ổn định kinh tế vĩ mô, trao đổi với phóng viên TTXVN, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) đã phân tích khả năng ứng phó của Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phối hợp chính sách và củng cố nội lực để tạo đà tăng trưởng 2 con số cho nền kinh tế.

Chú thích ảnh
Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) trả lời phóng viên TTXVN. Ảnh tư liệu: Hải Ngọc/TTXVN

Trước những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang tác động mạnh đến giá năng lượng và chi phí logistics, đại biểu đánh giá thế nào về khả năng ứng phó của nền kinh tế Việt Nam để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

Trước hết cần nhìn nhận vấn đề này trong tinh thần vừa thận trọng, vừa tự tin bởi những biến động địa chính trị tại Trung Đông hiện nay rõ ràng không còn là những diễn biến ở bên ngoài xa xôi, mà đã và đang tác động trực tiếp đến nhiều nền kinh tế; trong đó, có Việt Nam. 

Khi căng thẳng làm gia tăng rủi ro gián đoạn nguồn cung năng lượng, đẩy giá dầu, giá khí, cước vận tải, bảo hiểm hàng hóa tăng lên, tác động đó sớm muộn sẽ tác động đến chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, giá thành sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. 

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường và rủi ro bên ngoài gia tăng như hiện nay, tăng trưởng kinh tế 2 con số chỉ có ý nghĩa thực chất khi đó là tăng trưởng có chất lượng, nền tảng và sức chống chịu. Tức là không chỉ tăng về tốc độ mà còn phải tăng trên cơ sở củng cố năng lực nội sinh của nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, giữ được cân đối lớn, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh chuỗi cung ứng và củng cố niềm tin thị trường.

Tôi cho rằng nền kinh tế Việt Nam có cơ sở để ứng phó bởi đã nhiều lần vượt qua các “cơn gió ngược” như đại dịch, đứt gãy chuỗi cung ứng hay lạm phát nhập khẩu, qua đó thể hiện rõ khả năng thích nghi và tự điều chỉnh. Tuy nhiên, không thể chủ quan, bởi sức ép hiện nay đòi hỏi mô hình tăng trưởng phải chuyển từ dựa vào mở rộng quy mô sang dựa nhiều hơn vào chất lượng điều hành, năng suất, đổi mới công nghệ, thị trường trong nước và sức bền của doanh nghiệp.

Một nền kinh tế có thể tăng tốc khi điều kiện thuận lợi nhưng chỉ những nền kinh tế có nội lực đủ mạnh mới có thể vững vàng trước sóng gió bên ngoài. Biến động tại Trung Đông chính là phép thử cho thấy mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam không thể dựa vào quán tính cũ hay kỳ vọng đơn giản, mà đòi hỏi nền kinh tế linh hoạt, chủ động và sức chống chịu tốt hơn.
Nói cách khác, biến động này không làm mất đi khả năng tăng trưởng cao nhưng buộc phải nhìn sâu hơn vào chất lượng tăng trưởng từ bản lĩnh điều hành, năng lực tự cường đến khả năng biến áp lực bên ngoài thành động lực tái cơ cấu. Nếu làm được điều đó, thách thức không chỉ là trở lực mà còn là cơ hội để nền kinh tế trưởng thành hơn.

Theo đại biểu, trong bối cảnh rủi ro bên ngoài gia tăng, đâu là các giải pháp cấp bách cần ưu tiên để vừa ổn định kinh tế vĩ mô, vừa duy trì động lực tăng trưởng?

Trong bối cảnh hiện nay, điều quan trọng không chỉ là giải pháp mà còn xác định đúng thứ tự ưu tiên, đúng trọng tâm hành động và đúng thời điểm can thiệp. Bởi khi rủi ro bên ngoài gia tăng, nếu phản ứng chậm hoặc phản ứng dàn trải, không chỉ bỏ lỡ cơ hội giảm thiểu tác động bất lợi mà có thể gia tăng tâm lý bất an trên thị trường.

Trước hết cần ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát tốt kỳ vọng lạm phát. Khi giá năng lượng, cước vận tải và nguyên vật liệu đầu vào gia tăng, áp lực không chỉ dừng ở chi phí của doanh nghiệp mà còn có xu hướng lan sang mặt bằng giá chung, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua và niềm tin tiêu dùng. Nếu không kiểm soát tốt kỳ vọng lạm phát, việc điều hành sau đó sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Vì vậy, điều hành giá cần được thực hiện minh bạch, lộ trình rõ ràng, phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ và kiên quyết ngăn chặn tình trạng lợi dụng biến động quốc tế để tăng giá bất hợp lý trong nước.

Ưu tiên tiếp theo là bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh logistics. Trong bối cảnh thế giới ngày càng bất định, vấn đề không chỉ là giá cao hay thấp mà quan trọng hơn là sự ổn định của nguồn cung và tính an toàn của chuỗi vận tải. 

Điều này đòi hỏi phải chủ động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn cung nhiên liệu, nâng cao năng lực dự trữ đối với các đầu vào thiết yếu, đồng thời từng bước hoàn thiện hệ thống logistics để giảm phụ thuộc vào những tuyến vận tải dễ bị tác động bởi xung đột địa chính trị. Ở góc độ rộng hơn, an ninh năng lượng cần được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của an ninh kinh tế quốc gia.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng giữ cho doanh nghiệp còn sức sản xuất, còn khả năng cạnh tranh và còn niềm tin để tiếp tục đầu tư, duy trì đơn hàng và việc làm. Khi chi phí đầu vào tăng cao, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu sẽ chịu sức ép lớn về dòng tiền và khả năng xoay xở. Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn này không chỉ là hỗ trợ từng chủ thể riêng lẻ, mà là bảo vệ năng lực sản xuất của nền kinh tế, bảo vệ việc làm và nền tảng an sinh xã hội trong dài hạn.

Theo tôi, cần triển khai các biện pháp hỗ trợ theo hướng có mục tiêu, đúng đối tượng và thời hạn rõ ràng như giãn, hoãn thuế phí, đẩy nhanh hoàn thuế, giảm chi phí tuân thủ, tháo gỡ các thủ tục hành chính còn gây ách tắc, đồng thời hỗ trợ tín dụng lưu động cho những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp. 

Trong bối cảnh hiện nay, điều doanh nghiệp cần không hẳn là những gói hỗ trợ lớn trên danh nghĩa, mà là các quyết định đủ nhanh, đủ trúng để giúp họ duy trì dòng tiền, giữ nhịp sản xuất và không bị hụt hơi giữa lúc khó khăn.

Cùng với đó, cần tận dụng chính sức ép từ bên ngoài để thúc đẩy tái cơ cấu động lực tăng trưởng theo hướng bền vững hơn và việc này phải được bắt đầu ngay từ hiện tại chứ không thể chờ đợi. Nếu nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc lớn vào khu vực bên ngoài, vào nguyên liệu nhập khẩu và những mắt xích chưa làm chủ, thì mỗi cú sốc toàn cầu sẽ tiếp tục tạo ra những rung lắc đáng kể. 

Do đó, phải đẩy mạnh phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước, nâng cao năng lực của công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, sử dụng năng lượng hiệu quả, đồng thời phát triển thị trường nội địa và nâng cao hiệu quả đầu tư công như một động lực dẫn dắt.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, trước biến động toàn cầu, phản ứng phù hợp không phải là thu hẹp trong thế phòng thủ, mà là giữ vững ổn định để chủ động thích ứng và quyết liệt cải cách. Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện cần nhưng chưa đủ; quan trọng hơn là phải biến sự ổn định đó thành nền tảng cho cải cách, từ đó hình thành sức chống chịu mới cho nền kinh tế. Chỉ khi làm được như vậy mới có thể vừa vượt qua những khó khăn trước mắt, vừa duy trì được đà phát triển bền vững.

Chú thích ảnh
Cảng quốc tế Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng. Ảnh: Hoàng Ngọc/TTXVN

Đại biểu nhận định ra sao về vai trò của chính sách tài khóa và tiền tệ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua áp lực chi phí đầu vào gia tăng như hiện nay?

Tôi cho rằng trong giai đoạn hiện nay, chính sách tài khóa và tiền tệ đều giữ vai trò quan trọng, nhưng điều cốt lõi là phải được phối hợp nhịp nhàng, đúng vai và đúng liều lượng. Nếu phối hợp hiệu quả, đây sẽ là “bộ đôi” giúp nền kinh tế giảm chấn trước cú sốc chi phí; ngược lại, nếu thiếu đồng bộ có thể làm méo tín hiệu thị trường và phát sinh bất ổn.

Trong bối cảnh áp lực chủ yếu đến từ chi phí đầu vào tăng do yếu tố bên ngoài, chính sách tài khóa cần chủ động và đi trước một bước. Công cụ này có lợi thế hỗ trợ trực tiếp và kịp thời thông qua các biện pháp như giảm, giãn, hoãn thuế phí; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công để kích cầu; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và mở rộng thị trường. Tài khóa không chỉ giúp giảm gánh nặng chi phí trước mắt, mà còn góp phần củng cố niềm tin khi doanh nghiệp cảm nhận được sự đồng hành kịp thời của Nhà nước.

Đối với chính sách tiền tệ, cần linh hoạt nhưng hết sức thận trọng. Trọng tâm là giữ ổn định thanh khoản, bảo đảm khả năng tiếp cận vốn cho các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ, thay vì nới lỏng quá mức để kích tăng trưởng. Trong bối cảnh áp lực lạm phát nhập khẩu còn hiện hữu, việc điều hành cần chú trọng giữ mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ cơ cấu lại nợ, định hướng tín dụng vào sản xuất kinh doanh, đồng thời kiểm soát rủi ro về tỷ giá, lạm phát và dòng vốn đầu cơ.

Tóm lại, không thể tuyệt đối hóa bất kỳ chính sách nào. Tài khóa cần chủ động, có trọng tâm; tiền tệ cần linh hoạt nhưng kỷ luật. Sự phối hợp hài hòa giữa hai chính sách sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua áp lực chi phí, đồng thời giữ vững năng lực sản xuất, việc làm và nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong bối cảnh nhiều biến động hiện nay.

Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!

Bài 3: Chủ động thích ứng để duy trì tăng trưởng

Uyên Hương - Thuỳ Dương/TTXVN (Thực hiện)