05:14 07/05/2026

Tăng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn Halal để mở rộng thị trường xuất khẩu

Ngày 7/5, Văn phòng SPS Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ tổ chức Hội nghị cập nhật các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) trong khuôn khổ Hiệp định VIFTA và CEPA.

Sự kiện thu hút sự tham gia của hơn 100 đại biểu trực tiếp cùng đại diện 34 tỉnh, thành tại các điểm cầu trực tuyến, tập trung thảo luận về lộ trình nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn Halal để mở rộng thị trường hàng hóa xuất khẩu.

Cơ hội từ thị trường nghìn tỷ USD

Chú thích ảnh
Ông Nguyễn Thành Duy, Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao), phát biểu.

Theo đánh giá từ Bộ Ngoại giao, thị trường Halal toàn cầu hiện có quy mô hơn 8.000 tỷ USD và dự kiến sẽ chạm mốc 10.000 tỷ USD trước năm 2028. Đây là một trong những ngành kinh tế tiêu dùng phát triển nhanh nhất thế giới, trong đó phân khúc thực phẩm Halal chiếm khoảng 65% tổng kim ngạch thương mại với mức tăng trưởng bình quân trên 10%/năm.

Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao) Nguyễn Thành Duy nhận định: Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Phi và Trung Đông là những thị trường trọng điểm do tập trung đông đảo cộng đồng người Hồi giáo. Đáng chú ý, các thị trường phát triển như châu Âu, Australia và Hoa Kỳ, dù có ít người Hồi giáo nhưng người dân lại đặc biệt ưa chuộng sản phẩm Halal vì các tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đối với Việt Nam, thị trường Halal không chỉ là mục tiêu xuất khẩu mà còn là động lực để đa dạng hóa hàng hóa, dịch vụ và phát triển ngành du lịch. Việt Nam được đánh giá là “cửa ngõ tiềm năng” kết nối thị trường Halal khu vực với thế giới nhờ vị trí chiến lược tại Đông Nam Á và năng lực sản xuất nông, lâm, thủy sản dồi dào.

Chú thích ảnh
Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, phát biểu. 

Theo ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, thị trường Halal hiện được xem là một trong những thị trường có tiềm năng lớn đối với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Thị trường này có quy mô dân số Hồi giáo toàn cầu khoảng 2 tỷ người, nhu cầu đối với thực phẩm và sản phẩm Halal tiếp tục gia tăng, đồng thời nhiều quốc gia Hồi giáo, nhất là tại khu vực Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi đang có nhu cầu cao đối với nông sản, thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn Halal và các quy định SPS liên quan. Việc thiết lập các tiêu chuẩn Halal từ sản xuất đến phân phối đang trở thành xu hướng chung, tạo ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt.

Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tiếp cận các thị trường này thông qua các hiệp định thương mại đã ký kết như Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Israel (VIFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA).

Trong khi đó, ông Ramlan Bin Osman, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nhận định, trong bối cảnh các nhà cung cấp truyền thống đang gặp gián đoạn do biến động địa chính trị, đây chính là “thời điểm vàng” để Việt Nam vươn lên lấp đầy khoảng trống thị trường, đặc biệt là các mặt hàng trái cây và rau quả tại Trung Đông.

Việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị Halal không chỉ giúp nông sản Việt Nam tăng giá trị xuất khẩu mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp chuyển mình theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường toàn cầu.

Hóa giải thách thức tiến tới thị trường Halal bền vững

Chú thích ảnh
Nhiều doanh nghiệp ở Cần Thơ mong muốn được mở rộng chứng nhận Halal để mở rộng thị trường xuất khẩu. 

Dù sở hữu tiềm năng lớn, mức độ tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị Halal vẫn chưa tương xứng. Tại Cần Thơ - đầu mối giao thương của vùng Đồng bằng sông Cửu Long – tính đến cuối năm 2025, mới chỉ có 56 doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal, chiếm chưa đầy 3% tổng số doanh nghiệp thực phẩm địa phương.

Ông Dương Hải Lâm, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng chế biến và Phát triển thị trường thành phố Cần Thơ, chỉ ra một nghịch lý: “Hàng hóa xuất khẩu rất nhiều nhưng nhãn Halal lại rất ít”. Thực tế, nhiều doanh nghiệp tại khu công nghiệp Trà Nóc xuất khẩu hàng đi UAE hay Saudi Arabia với giá trị hàng triệu USD mỗi năm, nhưng chỉ có khoảng 30% sản phẩm dán nhãn Halal chính thức. Việc thiếu chứng nhận khiến doanh nghiệp tự đánh mất từ 10 - 15% giá trị gia tăng về giá bán.

Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ việc chi phí “nuôi” chứng nhận quá cao và thời hạn hiệu lực ngắn (thường từ 1 - 3 năm). Chi phí đánh giá và mời chuyên gia quốc tế có thể tốn từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng, gây áp lực lớn cho doanh nghiệp nếu chưa có đơn hàng chắc chắn. Bên cạnh đó, sự không đồng nhất giữa các bộ tiêu chuẩn Halal của các quốc gia cũng khiến chi phí của doanh nghiệp tăng gấp đôi nếu muốn tiếp cận đồng thời nhiều thị trường.

Bên cạnh vấn đề chi phí, các chuyên gia cũng thẳng thắn chỉ ra những rào cản về mặt nhận thức. Ông Ramlan Bin Osman, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia cho rằng quan niệm sai lầm lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam là coi Halal chỉ đơn giản là một chiếc logo. Thực chất, Halal bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, bảo quản đến tư duy quản lý của cả tổ chức.

Hiện nay, Việt Nam vẫn thiếu một “hệ sinh thái Halal” đồng bộ để các doanh nghiệp hỗ trợ nguyên liệu lẫn nhau. Nguồn nhân lực Hồi giáo am hiểu quy định chuẩn quốc tế cũng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ngành quy mô lớn. Hơn nữa, các biện pháp SPS tại các thị trường nhập khẩu thường xuyên thay đổi, yêu cầu sự thích ứng linh hoạt và minh bạch thông tin từ phía doanh nghiệp.

Chú thích ảnh
Sản phẩm trứng muối của Công ty Minh Đức (TP.Cần Thơ) đã được chứng nhận Halal. 

Là đơn vị đã được cấp chứng nhận Halal để bước chân vào thị trường Indonesia, ông Đoàn Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH Sumofood đánh giá đây là thị trường cực kỳ tiềm năng nhờ cộng đồng người Hồi giáo đông đảo. Bên cạnh Indonesia, sản phẩm của công ty cũng đã có mặt tại Australia, Pháp và Hoa Kỳ ở mức độ thăm dò thị trường với mức giá cạnh tranh so với nội địa. Nhưng việc tiếp cận thị trường Halal cũng đặt ra nhiều thách thức lớn cho doanh nghiệp. Vì thế, đại diện doanh nghiệp Sumofood cũng bày tỏ mong muốn các cơ quan chức năng sớm có một trang thông tin tập trung liệt kê danh sách các doanh nghiệp đạt chuẩn Halal theo từng thị trường để khách hàng quốc tế có thể dễ dàng tìm kiếm và kết nối giao thương.

Để hóa giải các thách thức, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030”. Tính đến nay, đã có 18 Biên bản ghi nhớ (MOU) về Halal được ký kết; đồng thời Việt Nam đã thành lập Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia và xây dựng 7 tiêu chuẩn Halal quốc gia.

Tuy nhiên, để những nền tảng này thực sự mang lại hiệu quả kinh tế, Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi Nguyễn Thành Duy đề xuất tăng cường xúc tiến, quảng bá sản phẩm Halal, hỗ trợ, kết nối doanh nghiệp, địa phương Việt Nam với các đối tác, thị trường Halal toàn cầu. Đẩy mạnh thông tin về tiềm năng, cơ hội, thế mạnh phát triển ngành Halal của Việt Nam, đồng thời thông tin tới các doanh nghiệp, địa phương Việt Nam các thị trường Halal trọng điểm, cơ hội hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư.

Ở góc độ quản lý tại địa phương, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng chế biến và Phát triển thị trường thành phố Cần Thơ Dương Hải Lâm đề xuất sớm triển khai Nghị định về sản phẩm và dịch vụ Halal, đồng thời ban hành các quy định quản lý nhà nước đầy đủ hơn. Tăng cường tập huấn cho các doanh nghiệp về tiêu chuẩn Halal, kiểm soát trong từng khâu, minh bạch thông tin báo cáo, quy trình chứng nhận, và lợi ích xuất khẩu.

Việc đạt được chứng nhận Halal không chỉ là "giấy thông hành" để vào thị trường Hồi giáo, mà còn là cơ hội để nông sản Việt Nam chuyển mình chuyên nghiệp, đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường toàn cầu. Do đó, đòi hỏi có sự nỗ lực của doanh nghiệp, chung tay của cơ quan chức năng để thị trường nghìn tỷ USD không chỉ dừng lại ở “tiềm năng”.

Tin, ảnh: Thu Hiền (TTXVN)