Chiều 8/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Chiều 8/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Phát biểu thảo luận dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn ĐBQH Thành phố Đồng Nai) bày tỏ sự đồng tình cao với việc sửa đổi Luật Dầu khí, đặc biệt trong bối cảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Đại biểu Trịnh Xuân An nhấn mạnh, hoạt động dầu khí gắn chặt với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, các quy định trong dự thảo Luật hiện còn chưa rõ nét. Về tiêu chí đánh giá rủi ro, dự thảo Luật có nhắc đến yếu tố quốc phòng, an ninh trong đấu thầu (Điều 14) hoặc báo cáo dự án (Điều 6), nhưng thiếu tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh. Đại biểu đề nghị làm rõ hơn các yếu tố quốc phòng, an ninh trong dự thảo Luật để tạo khung pháp lý hoàn chỉnh.
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn ĐBQH Thành phố Đồng Nai) phát biểu.
Các đại biểu tán thành và thống nhất cao về sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí hiện hành trong bối cảnh ngành năng lượng toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức. Nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng cao để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế; nhiều mỏ dầu khí hiện hữu đã bước vào giai đoạn suy giảm; hoạt động tìm kiếm, thăm dò ngày càng phải dịch chuyển ra vùng nước sâu, xa bờ, với điều kiện địa chất, địa lý và kỹ thuật phức tạp. Đồng thời, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí đặt trong chiến lược vừa bảo đảm an ninh năng lượng vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Đại biểu cho rằng, cơ quan chủ trì soạn thảo đã có nhiều nỗ lực, tiếp thu các ý kiến thẩm định, thẩm tra và chỉnh lý một số nội dung trong dự thảo.
Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) kiến nghị, cần quy định rõ các hoạt động khác chỉ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí khi phục vụ trực tiếp hoạt động dầu khí hoặc sử dụng trực tiếp diện tích hợp đồng, công trình, giếng, đường ống, dữ liệu, mẫu vật hay thành tạo địa chất của dự án dầu khí. Đối với dự án năng lượng ngoài khơi độc lập, có mục tiêu chính là phát điện thương mại và bán điện lên hệ thống điện quốc gia, phải tuân thủ pháp luật điện lực, đầu tư, quy hoạch và pháp luật về biển. Dự án CCS (thu giữ, lưu trữ carbon) độc lập được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành về môi trường, đầu tư, xây dựng và các lĩnh vực liên quan.
Phân tích về khung pháp lý đối với hoạt động CCS, các địa biểu Quốc hội nhận định đây là nội dung mới, có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng không (net zero) vào năm 2050. Khoản 3 Điều 48 khuyến khích tận dụng công trình dầu khí hiện hữu và các thành tạo địa chất phù hợp để thực hiện CCS đối với CO2 phát sinh từ hoạt động dầu khí và từ các nguồn phát thải khác.
Về vấn đề việc tiếp nhận CO2 từ nguồn khác, đại biểu đánh giá, có thể nâng cao hiệu quả sử dụng giàn khai thác, đường ống, giếng khoan và các thành tạo địa chất sẵn có, qua đó giảm chi phí đầu tư chung của xã hội. Đây cũng là cơ hội để ngành dầu khí phát huy năng lực kỹ thuật trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) cho rằng, cần chuyển từ tư duy “ưu đãi đầu tư” sang tư duy “cạnh tranh toàn cầu”. Dự thảo đã bổ sung nhiều chính sách mạnh: Hạ thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế xuất khẩu dầu thô, nâng tỷ lệ thu hồi chi phí… Đây là bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhà đầu tư quốc tế không lựa chọn điểm đến theo mức ưu đãi tuyệt đối, mà theo tương quan so sánh với các nước cùng mức độ rủi ro địa chất và địa chính trị. Việc ấn định một khung ưu đãi cứng cho mọi lô, mọi mỏ là không phù hợp.
Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Tráng A Dương phát biểu tại hội trường. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Về nguyên tắc thực hiện điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí tại Khoản 4, Điều 6, đại biểu Tráng A Dương (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) nhấn mạnh: "Tôi đánh giá cao việc dự thảo đã đề cập đến kỹ thuật, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, để thể hiện đầy đủ hơn định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, tôi đề nghị bổ sung cụm từ 'Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo'".
Theo đại biểu Tráng A Dương, việc bổ sung này nhằm tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong toàn bộ chuỗi hoạt động dầu khí, nâng cao hiệu quả, an toàn và năng suất, góp phần phát triển ngành dầu khí hiện đại, bền vững.
Hoạt động dầu khí diễn ra trên vùng biển gắn liền với ngư trường và sinh kế của ngư dân. Vi vây, nhiều đại biểu Quốc hội cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc bảo đảm hài hòa giữa hoạt động dầu khí với quyền lợi hợp pháp và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển, cùng với trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đây vừa là yêu cầu phát triển bền vững, vừa là yếu tố tạo đồng thuận xã hội.