Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên số, nơi dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược, độ tin cậy trong lưu trữ, trao đổi, xác minh thông tin trở thành yếu tố cốt lõi của tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, công nghệ blockchain chính là hạ tầng số nền tảng, có khả năng tạo dựng niềm tin trong môi trường số, góp phần bảo đảm vận hành minh bạch, an toàn và hiệu quả cho nền kinh tế số, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ quyền dữ liệu quốc gia. Blockchain và các lớp ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa là một trong 6 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay.
Định hình tương lai của kinh tế số
Ứng dụng AI, dữ liệu lớn và blockchain trong quản lý công trình thủy lợi. Ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Công nghệ blockchain (chuỗi khối) là một hệ thống ghi chép dữ liệu theo cách phi tập trung, bảo mật cao. Blockchain hoạt động như một “cuốn sổ cái kỹ thuật số”, ai cũng có thể xem nhưng không ai có thể tùy tiện sửa đổi. Cách thức hoạt động của công nghệ này là thông tin giao dịch được lưu thành các khối dữ liệu (block), các khối này được liên kết với nhau bằng mã niêm phong, tạo thành một chuỗi (chain).
Mỗi khối sẽ có dữ liệu giao dịch; thời điểm giao dịch và mã định danh duy nhất. Một khi dữ liệu đã được ghi vào blockchain thì sẽ không bị sửa đổi hoặc xóa đi, nếu ai đó cố sửa một khối, toàn bộ chuỗi blockchain sẽ phát hiện ra lỗi và bác bỏ thay đổi đó. Tính phi tập trung của công nghệ này thể hiện ở việc dữ liệu được sao chép và lưu trữ trên nhiều máy tính trong mạng lưới, giúp bảo đảm tính minh bạch và an toàn, thay vì chỉ lưu trên một máy chủ tập trung.
Với những đặc điểm này, trên thế giới blockchain đang được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực thiết yếu như tài chính phi tập trung, chuỗi cung ứng, logistics, y tế, giáo dục, đô thị thông minh và quản trị công. Tại Việt Nam blockchain được các chuyên gia đánh giá không chỉ là công nghệ mà còn là cơ hội, là một phần tương lai của kinh tế số Việt Nam với những ứng dụng thực tiễn ngày càng rõ nét.
Trong lĩnh vực nông nghiệp và xuất khẩu, công nghệ blockchain giúp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, minh bạch hóa quy trình sản xuất nhằm nâng cao giá trị nông sản Việt trên thị trường quốc tế. Trong tài chính - ngân hàng, blockchain giúp giảm chi phí trung gian, tăng tốc độ và độ bảo mật cho giao dịch. Ở lĩnh vực chứng khoán, công nghệ blockchain mở đường cho thanh toán tức thì, phát hành chứng khoán số, đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát, phòng chống gian lận.
Trong chuỗi cung ứng và logistics, blockchain hỗ trợ theo dõi minh bạch từ sản xuất đến tiêu dùng, giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và thất thoát. Đặc biệt, trong hành chính công, công nghệ blockchain tạo điều kiện tăng tính liêm chính, minh bạch, hạn chế gian lận và giảm các thủ tục trung gian.
Theo Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam, hạ tầng mạng blockchain và các ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa được xác định là một trong 6 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên phát triển là quyết định đúng đắn, và quan trọng hơn là đúng thời điểm. Quyết định này cho thấy Chính phủ đã đánh giá đúng bản chất và đưa công nghệ blockchain trở về đúng vị trí.
Trước đó, blockchain thường bị gắn với tiền mã hóa và đầu cơ tài sản số theo góc nhìn phiến diện và ngắn hạn. Về mặt bản chất, blockchain là hạ tầng số tin cậy, một nền tảng cho phép xác thực, truy vết và minh bạch hóa dữ liệu mà không phụ thuộc vào một bên trung gian duy nhất. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh kinh tế dữ liệu và chính phủ số, blockchain chính là hạ tầng nền tảng mang tính chất đòn bẩy cho kinh tế số, tương tự như trọng trách mà mạng viễn thông hay hạ tầng thanh toán điện tử đã gánh vách trong những thập kỷ trước.
Tuy nhiên, ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam cho rằng, xác định hạ tầng mạng blockchain cùng các ứng dụng cụ thể là sản phẩm chiến lược mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở cách triển khai với ba yêu cầu then chốt cần đảm bảo. Đó là làm chủ công nghệ lõi - yêu cầu tiên quyết nhằm đảm bảo chủ quyền dữ liệu và tài sản số; phải có lộ trình ứng dụng và có tính ưu tiên. Blockchain chỉ phát huy giá trị khi được triển khai vào các bài toán thực tế như truy xuất nguồn gốc nông sản, xác thực văn bằng chứng chỉ, quản lý đất đai, giao dịch tài sản công với các yêu cầu cụ thể. Cuối cùng là tăng cường chính sách thu hút nhân tài để đội ngũ này chủ động tham gia vào các bài toán quốc gia.
Xây dựng hạ tầng blockchain “Make in Vietnam”
Theo Quyết định số 2815/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2027, Việt Nam làm chủ hạ tầng công nghệ blockchain lớp nền (Layer 1) đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, phục vụ nhu cầu triển khai của cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp; xây dựng và đưa vào vận hành 5 sản phẩm trọng điểm ứng dụng công nghệ blockchain. Cùng với đó, thiết lập cơ chế liên thông quốc tế giữa hạ tầng blockchain quốc gia và các mạng toàn cầu, bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế; hướng tới mục tiêu Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia có hạ tầng blockchain quốc gia được công nhận quốc tế theo các đánh giá độc lập.
Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam đánh giá những mục tiêu này hoàn toàn khả thi vì blockchain là một trong ít ngành công nghệ mà Việt Nam có xuất phát điểm không quá xa so với thế giới. Về nhân lực, Việt Nam có lợi thế đáng kể với cộng đồng lập trình viên thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á, có kinh nghiệm thực tế. Về khung pháp lý, dù chậm hơn so với Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc), Các tiểu vương quốc Ả rập hay Nhật Bản nhưng Việt Nam đang đi đúng hướng. Từ Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 1236/QĐ-TTg ban hành Chiến lược Blockchain quốc gia của Thủ tướng Chính phủ, khung pháp lý của blockchain đã có sự tăng tốc rất mạnh mẽ.
Trong đó nổi bật là việc chính thức luật hóa tài sản mã hóa theo Luật Công nghiệp Công nghệ số từ 1/1/2026, xác định blockchain là công nghệ chiến lược và lựa chọn các sản phẩm ưu tiên triển khai ngay theo hai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là 1131/QĐ-TTg và 2815/QĐ-TTg. Không đi đầu về xây dựng khung pháp lý, nhưng trong vòng 12 tháng qua, Việt Nam đã đi được quãng đường mà nhiều quốc gia mất 3-5 năm.
Đặc biệt, Việt Nam đã có Mạng dịch vụ đa chuỗi blockchain Việt Nam (VBSN). Phần lớn các quốc gia, kể cả các nước phát triển, chưa xây dựng được một Mạng dịch vụ blockchain quốc gia theo mô hình hạ tầng dùng chung. Hiện chỉ có Hạ tầng Dịch vụ Blockchain châu Âu (EBSI) của Liên minh châu Âu, Mạng Dịch vụ Blockchain (BSN) của Trung Quốc.
Tại Diễn đàn quốc gia Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI ngày 15/1/2025, Tập đoàn One Mount chính thức nhận nhiệm vụ từ Chính phủ xây dựng mạng blockchain Layer-1 “Make in Vietnam”. Nhiệm vụ này mang ý nghĩa chiến lược, nhằm giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ chuỗi khối nền tảng, xây dựng hạ tầng blockchain quốc gia, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số, Chính phủ số và xã hội số.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, One Mount và Decom Holdings đã thành lập Công ty 1Matrix để triển khai xây dựng hạ tầng blockchain Layer-1 đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật cốt lõi về tốc độ xử lý cao, khả năng mở rộng vượt trội, bảo mật tối ưu và cơ chế đồng thuận linh hoạt, phù hợp với yêu cầu vận hành các hệ thống quan trọng ở quy mô quốc gia. Được xây dựng với mục tiêu hình thành một hạ tầng blockchain chủ quyền quốc gia cho Việt Nam, không phụ thuộc vào việc trở thành Layer 2 của bất kỳ blockchain công khai nào, Công ty 1Matrix phát triển hoàn thiện VNBS với đội ngũ kỹ sư 100% người Việt, do người Việt Nam thiết kế, làm chủ hoàn toàn công nghệ lõi.
Đến nay, VBSN đã hoàn thành giai đoạn nghiên cứu, hỗ trợ 7 mô hình giao thức Layer-1, sẵn sàng chuyển giao để ứng dụng rộng rãi ở cả khu vực dịch vụ công và tư. Thành tựu nổi bật nhất là việc VBSN và các giải pháp Blockchain-as-a-Service (dịch vụ chuỗi khối như một dịch vụ) đang được tích hợp trong ứng dụng Truy xuất nguồn gốc tiền chất, hóa chất của Bộ Công an trên Nền tảng định danh điện tử quốc gia VNeID.
Bên cạnh đó, hàng loạt ứng dụng tiêu biểu khác cũng đang được xây dựng và triển khai trên nền tảng VBSN như: ChainTracer truy vết các dự án có dấu hiệu đáng ngờ; bản đồ số thí điểm tại thành phố Đà Nẵng; xác thực văn bằng, chứng chỉ tại Học viện Kỹ thuật Mật mã; định danh và xác thực phi tập trung (DID/VC) tại một số ngân hàng, tổ chức tài chính lớn; nền tảng xác thực, đăng ký và quản lý quyền sở hữu trí tuệ.
Ông Trần Trung Hiếu, Quản lý cao cấp Hạ tầng 1Matrix cho biết VBSN có thể đạt tốc độ tối đa 350.000 TPS (giao dịch/giây), tốc độ giao dịch ổn định khoảng 20.000 - 40.000 TPS, tùy theo nhu cầu và lĩnh vực sử dụng. Trong đó, các mạng ứng dụng trong Truy xuất nguồn gốc, bảo hiểm, thanh toán vi mô đạt tốc độ ổn định khoảng 50.000 TPS, đạt tối đa 300.000 TPS; thanh toán vi mô đạt tốc độ ổn định 10.000 TPS, tốc độ cao nhất trên 100.000 TPS…
Với nhiệm vụ cung cấp hạ tầng blockchain quy mô quốc gia ở cả khu vực dịch vụ công và tư, VBSN được thiết kế theo kiến trúc năm tầng, hỗ trợ mở rộng theo cả chiều ngang (nhiều chuỗi với quản trị độc lập) và chiều dọc (chuỗi chuyên ngành); đồng thời đảm bảo khả năng liên thông với các hệ sinh thái blockchain toàn cầu, tránh sự phụ thuộc vào một nền tảng duy nhất.
Tại Diễn đàn quốc gia Phát triển doanh nghiệp công nghệ số lần thứ VII tháng 12/2025, VBSN được 1Matrix cam kết tích hợp trong hệ thống truy xuất nguồn gốc và hệ thống tư pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả công tác quản lý hàng hóa, sản phẩm và phục vụ nhà nước pháp quyền
Xây dựng hạ tầng blockchain “Make in Vietnam” cần một quá trình hình thành năng lực làm chủ, triển khai và kết nối hệ sinh thái. Trong bối cảnh chuyển đổi số đặt ra yêu cầu ngày càng cao về minh bạch và tin cậy dữ liệu, việc phát triển blockchain trở thành giải pháp quan trọng để củng cố nền tảng hạ tầng số và chủ quyền dữ liệu quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy ứng dụng vào các lĩnh vực cụ thể và phát huy vai trò của doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu trong việc chuyển hóa công nghệ thành những sản phẩm có giá trị thực tiễn.
Bài 4: 5G-Biểu tượng của năng lực tự chủ công nghệ quốc gia