03:20 10/03/2014

Rau Răm ở lại...

Tác giả bài thơ này vốn là một nhà báo thâm niên, gạo cội, nhưng với thơ, ông là một cây bút tài tử. Có cảm hứng thì động bút, ghi lại chuyện nhân tình thế thái.

Bà Phi Yến, tên tục: Lê Thị Răm, là quý phi của chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long). Khi bị quân Tây Sơn đuổi đánh, Phúc Ánh chạy ra Côn Đảo. Tại đây bà Phi Yến can chúa không nên cầu viện ngoại bang giúp sức để đánh lại nhà Tây Sơn. Chúa không nghe, bà Phi Yến quyết liệt ngăn cản. Nguyễn Phúc Ánh ra đi, bỏ lại bà Phi một mình trong một hang sâu trên đảo.

 

Người con trai là hoàng tử Cải kêu khóc đòi mẹ, bị chúa cho vứt xuống biển. Người đời sau tôn bà Phi là Trung trinh tiết liệt và lập miếu An Sơn thờ phụng. Khách thăm Côn Đảo giờ đây đều thành kính đến viếng hai mẹ con bà. Người dân Côn Đảo còn cho rằng câu ca dao “Gió đưa cây Cải về trời/ Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay” chính là nói về mẹ con bà quý phi Lê Thị Răm và hoàng tử Cải.

Viếng bà Phi Yến

 

Con xin có nén nhang này

Viếng bà Côn Đảo giữa ngày bão giông

Từ trong lòng biển sóng cồn

Nỗi niềm xưa lại một lần quặn đau...

Thời gian đâu dễ phai màu

Vọng lời Người giữa xanh cao đại ngàn '

'Cùng là máu đỏ da vàng

Cớ sao phải viện ngoại bang tương tàn

Có thắng cũng chẳng vẻ vang

Tránh sao muôn sự luận bàn đời sau...'''

''Trung trinh tiết liệt'' anh hào

Một mình nhận lấy bao nhiêu bạo tàn

Con chết, mẹ ở đảo hoang

Tử sinh ly biệt muôn ngàn xót xa

Chúa còn ham mộng sơn hà

Thì tình cốt nhục có là gì đâu

Ném hoàng tử xuống biển sâu

Mặc người vợ trẻ dập đầu khóc than...

Bao phen binh lửa hoang tàn

Máu xương người Việt ngập tràn muôn nơi

Bình yên khát vọng ngàn đời

Lời ru còn mãi khôn nguôi nhớ Người

''Gió đưa cây Cải về trời

Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay...''.

 

Trần Mai Hưởng


Tác giả bài thơ này vốn là một nhà báo thâm niên, gạo cội, nhưng với thơ, ông là một cây bút tài tử. Có cảm hứng thì động bút, ghi lại chuyện nhân tình thế thái. Thơ thường mang ý nghĩa chiêm nghiệm việc đời. Bài này, dựa theo sự tích bà Phi Yến, ông suy nghĩ về tình cốt nhục của kẻ đang cơn say giành quyền vương bá Chúa còn ham mộng sơn hà / Thì tình cốt nhục có là gì đâu. Lời bình luận gọn, rõ, thẳng thắn mà thuyết phục.

Trong chuyện trò của người dân nhiều đời hình như ai cũng bộc lộ ý tưởng này. Nhưng đấy lại chỉ là ý phụ của bài thơ này, điều tác giả Trần Mai Hưởng muốn bàn luận với hôm nay lại là lời can ngăn của bà Phi, khi chúa Phúc Ánh tiến hành bang giao để cầu cứu nước Pháp mang quân sang đánh Tây Sơn, hòng giành lại ngôi báu cho mình:


Cũng là máu đỏ da vàng


Cớ sao phải viện ngoại bang tương tàn


Có thắng cũng chẳng vẻ vang


Tránh sao muôn sự luận bàn đời sau.


Lập luận của bà Phi chốt lại trong một lý lẽ: rước kẻ ngoại bang về tiêu diệt đồng bào mình, dù với bất kỳ lý do gì, dù thắng bại thế nào, cũng bị muôn đời cháu con lên án. Đó cũng là lập luận phổ biến của mọi người dân xưa nay và đã thành một quy tắc bình giá lịch sử. Kinh nghiệm tồn vong của dân tộc đã cho thấy, từ Trần từ Lê, mỗi lần cầu viện ngoại bang là một lần giang sơn xã tắc lại rơi vào nô lệ đau đớn, thảm khốc.

Bà Phi chắc chắn không đủ tài năng chính trị để nhận chân những trùng điệp mưu chước ngoại bang nhưng những gì dân tộc đã trải, và cả những điều mắt thấy tai nghe, đã dạy bà không tin vào sự hào hiệp của kẻ bên ngoài. Không dễ gì người ta chịu đổ máu cho mình hưởng lợi. Nên ở cương vị quý phi, lại đã có con trai với chúa Nguyễn, lợi ích của chúa là lợi ích của bà, bà vẫn một mực chống lại đường lối cõng rắn cắn gà nhà của Phúc Ánh. Lời khuyên can trung trinh ấy đã đánh trúng tim đen nhà chúa nên bà đã bị trừng phạt thảm khốc cả mẹ lẫn con: Con chết, mẹ ở đảo hoang / Tử sinh ly biệt muôn ngàn xót xa.


Cảm xúc Trần Mai Hưởng là cảm xúc hồi cố lịch sử. Năm tháng và các sự kiện lịch sử đã đủ tạo dữ liệu cho người hôm nay bình xét. Bài thơ đan xen kể chuyện lẫn lời bình và cả nỗi cảm thương kính phục. Kể mà không rậm việc, bình mà không thuyết lý, cảm thương rất kiệm lời. Ngôn ngữ giản dị, giọng thơ tự nhiên như người trò chuyện.

Người đọc tiếp nhận câu chuyện lẫn chủ đề chính trị sáng rõ, trọn vẹn trong 24 câu thơ lục bát. Ưu điểm lớn nhất của bài thơ là đã tìm đúng điều đáng nói, phải nói từ tích chuyện này và biết lướt qua hoặc bỏ qua các chủ đề khác cũng rất gợi bình luận: như phận nữ nhi thương nước với việc quân vương, như sự tàn bạo lạnh lùng của mưu đồ chính trị, hay luận công tội của vị vua đầu triều Nguyễn, Gia Long... Tác giả còn khéo léo đưa được câu ca dao xưa vào ý kết, lưu sự tưởng nhớ truyền đời (lời ru) của dân gian đối với bà Phi biết coi dân nước làm trọng. Làm nhạt các mảng phụ là cách tô đậm cho mảng chính. Đọc thơ mà lại thấy được cái sắc sảo trong bàn thời cuộc rất nhà báo là ở chỗ này.

 

Vũ Quần Phương