Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông.
Hệ thống biển báo chỉ dẫn trên cao tốc Nha Trang - Cam Lâm. Ảnh minh họa: Phan Sáu/TTXVN
Nghị định số 99/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định sau: Nghị định số 44/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Nghị định số 12/2025/NĐ-CP ngày 20 ngày 1 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa; Nghị định số 15/2025/NĐ-CP ngày 03 ngày 02 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt; Nghị định số 84/2025/NĐ-CP ngày 4 ngày 4 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải. Trong đó, Nghị định số 99/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 2 Nghị định số 44/2024/NĐ-CP ngày 24/4/2024 quy định về cơ quan quản lý đường bộ và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ.
Cơ quan quản lý đường bộ
Theo quy định mới, cơ quan quản lý đường bộ gồm:
Cơ quan quản lý đường bộ ở trung ương là tổ chức trực thuộc Bộ Xây dựng thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Xây dựng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đường bộ.
Cơ quan quản lý đường bộ cấp tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về đường bộ.
Cơ quan quản lý đường bộ cấp xã là Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (Ủy ban nhân dân cấp xã).
Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ
Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (cơ quan, đơn vị quản lý tài sản) gồm:
Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản ở trung ương là cơ quan quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Xây dựng.
Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản cấp tỉnh là cơ quan quy định tại điểm b khoản 2 Điều này và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Cơ quan, đơn vị quản lý tài sản cấp xã là cơ quan chuyên môn về đường bộ cấp xã (cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về đường bộ) và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.
Thẩm quyền quyết định giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ
Nghị định số 99/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về thẩm quyền quyết định giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ tại Điều 6 Nghị định số 44/2024/NĐ-CP như sau:
Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định giao đối với tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc trung ương quản lý cho cơ quan, đơn vị quản lý tài sản ở trung ương.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định giao đối với tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ thuộc địa phương quản lý cho cơ quan, đơn vị quản lý tài sản ở địa phương.
Quy định về quản lý, sử dụng tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ
Quy định về quản lý, sử dụng số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ tại Điều 18 của Nghị định số 44/2024/NĐ-CP được sửa đổi như sau:
"1. Trường hợp cơ quan, đơn vị quản lý tài sản trực tiếp tổ chức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo quy định tại Điều 13 Nghị định này và các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 4 Điều 12 Nghị định này:
a) Số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ là phí sử dụng đường bộ và các khoản phí khác theo quy định của pháp luật quy định tại điểm a, điểm d khoản 3 Điều 12 Nghị định này được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về phí, pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.
b) Số tiền thu được từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ là tiền thu từ cung cấp các dịch vụ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định này (bao gồm cả số tiền thu được quy định tại các điểm b, c và d khoản 4 Điều 12 Nghị định này) được quản lý, sử dụng theo cơ chế tài chính áp dụng đối với cơ quan, đơn vị quản lý tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 8 Luật số 90/2025/QH15.
2. Trường hợp khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo quy định tại các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này:
a) Số tiền thu được từ chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (bao gồm cả số tiền chậm nộp - nếu có), sau khi trừ đi chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản, phần còn lại được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước như sau:
Nộp ngân sách trung ương đối với các khoản thu từ khai thác tài sản thuộc trung ương quản lý; Nộp ngân sách địa phương đối với các khoản thu từ khai thác tài sản thuộc địa phương quản lý.
b) Chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản gồm:
Chi phí phục vụ việc lập, trình, phê duyệt Đề án chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản; chi phí kiểm kê, xác định giá khởi điểm, tổ chức đấu giá chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng tài sản, cho thuê quyền khai thác tài sản, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản; chi phí bảo quản, bảo vệ tài sản trong thời gian tổ chức lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp khai thác; chi phí phục vụ công tác quản lý của Bên chuyển nhượng quyền thu phí, Bên cho thuê quyền khai thác, Bên chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản trong thời gian thực hiện hợp đồng; các chi phí khác có liên quan.
c) Mức chi; trình tự, thủ tục thanh toán chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ được thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 27 Nghị định này. Riêng chi phí phục vụ công tác quản lý trong thời gian thực hiện hợp đồng quy định tại điểm b khoản này được bố trí hằng năm vào dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước của cơ quan, đơn vị quản lý tài sản.
d) Bên nhận chuyển nhượng quyền thu phí, Bên thuê quyền khai thác, Bên nhận chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản thực hiện thanh toán tiền theo quy định tại điểm g khoản 9 của các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này cho cơ quan, đơn vị quản lý tài sản vào tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước nơi cơ quan, đơn vị quản lý tài sản mở tài khoản.
Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán lần đầu theo quy định tại điểm g khoản 9 của các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này, cơ quan, đơn vị quản lý tài sản thực hiện nộp số tiền còn lại đối với các khoản thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (sau khi trừ các khoản chi phí theo quy định tại điểm b, điểm c khoản này, không bao gồm chi phí phục vụ công tác quản lý được bố trí hàng năm vào dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước của cơ quan, đơn vị quản lý tài sản) vào ngân sách nhà nước. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán của các lần tiếp theo theo quy định tại điểm g khoản 9 của các Điều 14, 15 và 16 Nghị định này, cơ quan, đơn vị quản lý tài sản thực hiện nộp số tiền còn lại đối với các khoản thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ (sau khi trừ các chi phí phát sinh (nếu có) theo quy định tại điểm b, điểm c khoản này) vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản này.
đ) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý tài sản chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các khoản chi phí có liên quan đến việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ quy định tại điểm b, điểm c khoản này; việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước quy định tại điểm d khoản này".