Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc chuyển mạnh sang quản lý nhóm sản phẩm, hàng hóa dựa trên mức độ rủi ro và dữ liệu không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong giai đoạn tới.
Một cửa hàng bán xăng dầu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Ảnh minh họa: Thanh Vân/TTXVN
Từ xác định, phân loại và quản lý mức độ rủi ro
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Quốc gia nhấn mạnh: Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn, minh bạch và hội nhập ngày càng cao, cách tiếp cận quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam đang thay đổi căn bản với việc lấy rủi ro làm trung tâm, dữ liệu số làm nền tảng và hậu kiểm làm trọng tâm, theo định hướng của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 nêu rõ, sản phẩm, hàng hóa được phân loại dựa trên mức độ rủi ro, phù hợp thông lệ quốc tế; cảnh báo của tổ chức quốc tế có liên quan đối với sản phẩm, hàng hóa; khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ.
Để bảo đảm các quy định của Luật được triển khai đồng bộ, hiệu quả trong thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, tạo nền tảng quan trọng cho việc đổi mới toàn diện công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro trong giai đoạn mới. Việc xác định, phân loại mức độ rủi ro của sản phẩm hàng hóa để quản lý cho “đúng và trúng” phải đánh giá rủi ro dựa vào nguồn dữ liệu đầu vào, do đó dữ liệu phải đầy đủ, chính xác, cập nhật thì mới phản ánh đúng thực trạng rủi ro của sản phẩm, hàng hóa trên thị trường, bởi quản lý nhà nước phải dựa trên dữ liệu để hướng tới minh bạch và công khai trong hoạt động quản lý.
Vì vậy, việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa có ý nghĩa quan trọng nhằm tối ưu hóa hoạt động quản lý chất lượng, giảm thiểu nguy cơ đối với sức khỏe, môi trường và thiết lập biện pháp kiểm soát minh bạch, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định đầu tư, sản xuất chính xác và tuân thủ quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Mai Hương, Trưởng ban Quản lý chất lượng và Đánh giá sự phù hợp (Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Quốc gia) cho biết: Mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được lượng hóa thông qua công thức nhưng quá trình xác định mức độ rủi ro cần tuân thủ nguyên tắc cốt lõi như: Đánh giá phải được thực hiện theo từng mối nguy cụ thể của sản phẩm, hàng hóa; kết luận cuối cùng được xác định theo giá trị rủi ro cao nhất nhằm bảo đảm nguyên tắc thận trọng trong quản lý. Việc đánh giá có thể áp dụng theo nhóm đối với các sản phẩm có cùng chức năng, cùng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật để tối ưu nguồn lực và nâng cao hiệu quả. Đặc biệt, tư duy xuyên suốt trong đánh giá rủi ro cần được quán triệt theo hướng “Dữ liệu đầy đủ - Mối nguy rõ - Chấm điểm - Kết luận theo giá trị rủi ro cao nhất”.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy mạnh và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ngày càng cấp thiết, việc xác định, phân loại cũng như xây dựng một hệ thống giám sát tập trung, hiện đại để quản lý rủi ro là yêu cầu tất yếu đặt ra từ thực tiễn, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Việc cảnh báo rủi ro được thực hiện trên cơ sở phân tích dữ liệu lớn (Big Data), tích hợp cảnh báo từ trong nước và quốc tế, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện sản phẩm, hàng hóa có dấu hiệu vi phạm hoặc nguy cơ không bảo đảm chất lượng. Việc cảnh báo sớm rủi ro, phát hiện dấu hiệu vi phạm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
đến... quản lý theo Thông tư
Để quản lý hàng hóa, sản phẩm có mức độ rủi ro tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 36/2026/TT-BKHCN ngày 30/6/2026 về Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Thông tư quy định rõ, sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, kết quả thử nghiệm làm căn cứ chứng nhận hợp quy phải được thực hiện bởi tổ chức thử nghiệm được công nhận hoặc được Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, có phạm vi thử nghiệm phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng. Việc thừa nhận kết quả thử nghiệm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã ban hành trước ngày 1/7/2026 khi Thông tư số 36/2026/TT-BKHCN có hiệu lực thi hành, có quy định khác về yêu cầu quản lý chất lượng đối với sản phẩm, hàng hóa thì thực hiện theo quy định tại Thông tư này. Trường hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định tại Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao; hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành mới để áp dụng bổ sung đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này thì áp dụng theo quy định tại văn bản ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia kể từ thời điểm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia có hiệu lực thi hành.
Thông tư thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định rõ danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao kèm theo mã số HS (Mã quy định hàng hóa xuất-nhập khẩu) phù hợp với danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng: Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn, minh bạch và hội nhập ngày càng cao, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa cùng với Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và Thông tư số 36/2026/TT-BKHCN đảm bảo quản lý hàng hóa, sản phẩm có mức độ rủi ro, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch.
Sản phẩm, hàng hóa được quản lý theo mức độ rủi ro thấp, mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao. Tiêu chí đánh giá rủi ro theo thông lệ quốc tế, mức độ tác động đến sức khỏe, môi trường, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng và cảnh báo của tổ chức quốc tế có liên quan đối với sản phẩm, hàng hóa. Việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc hiệu quả, công khai, minh bạch, khách quan, phù hợp với mức độ rủi ro, không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa và chủ thể có liên quan, phù hợp thông lệ quốc tế, không tạo rào cản kỹ thuật không cần thiết, bảo vệ quyền của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Trường hợp sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục ban hành kèm theo Thông tư số 36/2026/TT-BKHCN, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng của hai hoặc nhiều quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phải đáp ứng đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng và thực hiện đánh giá sự phù hợp, chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo mức độ rủi ro, yêu cầu quản lý chất lượng tương ứng quy định tại Danh mục ban hành kèm theo Thông tư này, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng và quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Đặc biệt, sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử gồm vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân và thiết bị bức xạ được quản lý theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử; không áp dụng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 và khoản 2, khoản 3 Điều 4 của Thông tư này đối với các sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành năng lượng nguyên tử.