07:11 28/07/2026

Phát triển văn hóa củng cố niềm tin xã hội và hạnh phúc của nhân dân

Phát triển hài hòa vật chất và tinh thần, bảo đảm giữa phát triển kinh tế với thúc đẩy văn hóa, con người, củng cố niềm tin xã hội và hạnh phúc của nhân dân, nâng cao các giá trị đạo đức nhân văn là mục tiêu của Đảng, Nhà nước hiện nay.

Chú thích ảnh
Giữ gìn nét văn hóa truyền thống gắn với du lịch trải nghiệm đang là hướng đi mới của các điểm du lịch sinh thái.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đây vừa là một lời cảnh tỉnh về hệ giá trị, sâu xa hơn là yêu cầu phải thiết kế lại cách tư duy và tổ chức phát triển. Nếu chỉ coi đây là lời nhắc nhở về đạo đức dễ dừng lại ở những lời kêu gọi. Vì vậy, phải chuyển những giá trị đó thành thể chế, chính sách, tiêu chí đầu tư và cách đánh giá thành công của phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề rất rõ: Phát triển phải làm cho kinh tế lớn hơn, nhưng đồng thời xã hội phải tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết hơn và niềm tin được củng cố; thước đo cuối cùng phải là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của nhân dân. PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, đây chính là sự dịch chuyển quan trọng trong triết lý phát triển.

Đất nước có thể tăng trưởng nhanh, nhưng nếu đời sống người dân ngày càng căng thẳng, quan hệ cộng đồng lỏng lẻo, môi trường sống xuống cấp, di sản bị đánh đổi, trẻ em thiếu không gian vui chơi, người già thiếu nơi sinh hoạt, người nghèo khó tiếp cận nghệ thuật và những giá trị tốt đẹp... mục tiêu tăng trưởng cuối cùng phục vụ ai và để làm gì?

Chú thích ảnh
Du khách nước ngoài để lại cảm xúc trên "Bức tường ký ức" sau khi trải nghiệm tại Khu du lịch Bá Thước (Thanh Hóa).

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, văn hóa phải thực sự trở thành một hệ điều tiết của phát triển. Nghị quyết 80-NQ/TW cũng đã xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng, động lực, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển bền vững đất nước. Nghĩa là khi quyết định một khu đô thị, một dự án kinh tế, một chính sách giáo dục, một nền tảng số hay một chiến lược công nghiệp... đều phải đặt câu hỏi: Quyết định đó tạo ra cuộc sống và quan hệ xã hội nào, để lại những giá trị gì cho tương lai.

Nhìn ở góc độ có cần thiết lập cơ chế đánh giá tác động văn hóa và xã hội đối với các chính sách, dự án phát triển lớn hay không? PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định: “Chúng ta đã quen với đánh giá tác động môi trường, đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả đầu tư, nhưng tác động văn hóa và xã hội nhiều khi lại được xem như yếu tố bổ sung. Điều đó dẫn đến nghịch lý là có những dự án hiệu quả về mặt kinh tế ngắn hạn, nhưng gây ra những tổn thất văn hóa, xã hội và cần hiều năm sau mới nhìn thấy và khó phục hồi”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho hay.

Đối với những dự án lớn, đặc biệt là quy hoạch đô thị, hạ tầng, du lịch, khai thác tài nguyên, cải tạo các khu vực lịch sử, di sản hoặc những dự án tác động đến cộng đồng dân cư lớn, cần từng bước hình thành đánh giá tác động văn hóa xã hội như một thành phần thực chất của quá trình quyết định đầu tư.

Chú thích ảnh
Du khách nước ngoài thích thú với trò chơi ném còn.

Việc đánh giá ấy không nên biến thành thêm một thủ tục hành chính, cần trả lời được những câu hỏicụ thể: Dự án có làm mất không gian sinh hoạt cộng đồng hay không; có ảnh hưởng đến di sản, cảnh quan, ký ức của một vùng đất không; người dân địa phương được hưởng lợi hay bị đẩy ra ngoài quá trình phát triển; trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật có được tiếp cận không gian công cộng hay không; dự án tạo thêm hay làm giảm sự gắn kết xã hội; bản sắc địa phương được làm giàu hay bị đồng nhất hóa.

Quan trọng hơn, kết quả đánh giá phải có sức nặng trong quyết định cuối cùng. Không thể đánh giá xong rồi để đó, dự án có lợi nhuận cao nhưng nếu gây tác động tiêu cực đến di sản, môi trường văn hóa hay cộng đồng phải được điều chỉnh cho phù hợp.

Tinh thần chuyển từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển”, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu văn hóa và mục tiêu kinh tế xã hội đang được đặt ra rất rõ trong triển khai Nghị quyết 80. “Đây chính là lúc chúng ta đưa văn hóa đi từ phần ‘trang trí’ cuối cùng của một dự án lên thành một trong những câu hỏi đầu tiên khi quyết định dự án đó có nên được thực hiện và thực hiện như thế nào...”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn bày tỏ.

Có ý kiến cho rằng, không để người yếu thế bị đẩy ra bên lề đã đặt văn hóa trong mối quan hệ trực tiếp với công bằng xã hội. Khi nói đến người yếu thế trong văn hóa, chúng ta không nên chỉ hình dung một nhóm duy nhất. Đó có thể là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; người khuyết tật; người cao tuổi; công nhân trong các khu công nghiệp; trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; những gia đình thu nhập thấp ở các đô thị lớn. Và trong môi trường số hiện nay còn xuất hiện một dạng bất bình đẳng mới, đó là bất bình đẳng về khả năng tiếp cận công nghệ, dữ liệu, kỹ năng số và các sản phẩm văn hóa có chất lượng.

Chú thích ảnh
Du khách nước ngoài rất thích thú với các điểm du lịch sinh thái ở Việt Nam gắn với bảo tồn thiên nhiên.

Điều đáng suy nghĩ là người càng ít điều kiện kinh tế càng ít có cơ hội tiếp cận thư viện tốt, bảo tàng, nhà hát, nghệ thuật chất lượng cao, không gian công cộng đẹp hay những hoạt động sáng tạo. Nếu để thị trường quyết định hoàn toàn, văn hóa dễ trở thành một loại hàng hóa mà người có khả năng chi trả được hưởng nhiều hơn. Trong khi xét về bản chất, quyền tham gia và thụ hưởng đời sống văn hóa là một thành tố của chất lượng sống.

Vì thế, Nhà nước phải giữ vai trò bảo đảm một “mức sàn văn hóa” cho người dân. “Tôi rất mong trong tương lai, khi quy hoạch một khu dân cư, chúng ta không chỉ hỏi có bao nhiêu mét vuông nhà ở hay bao nhiêu chỗ đỗ xe, mà còn hỏi người dân có thư viện ở đâu, trẻ em chơi ở chỗ nào, nơi để người già sinh hoạt, cộng đồng gặp gỡ ở đâu, nghệ thuật hiện diện trong đời sống hằng ngày...”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn phân tích. 

Bên cạnh đầu tư thiết chế, cần đưa văn hóa đến gần người dân hơn thông qua thư viện số, bảo tàng số, các chương trình nghệ thuật lưu động, không gian sáng tạo cộng đồng, hỗ trợ vé cho những nhóm khó khăn và đặc biệt là đầu tư hạ tầng số ở những địa bàn còn khoảng cách tiếp cận.

Điều quan trọng hơn nữa là người dân không chỉ được thụ hưởng, mà phải được sáng tạo văn hóa. Một cộng đồng dân tộc thiểu số, làng nghề, nhóm thanh niên hay người khuyết tật phải là đối tượng được phục vụ, trở thành chủ thể kể câu chuyện, sáng tạo sản phẩm của mình và hưởng lợi từ chính những giá trị văn hóa mình tạo ra. Đó mới là công bằng văn hóa theo nghĩa đầy đủ nhất và tạo điều kiện để mọi người đều có thể góp phần làm nên văn hóa.

Bài, ảnh: V.T/Báo Tin tức và Dân tộc