Những năm qua, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng chiết xuất hoạt chất điều trị các bệnh mãn tính từ các loài cây dược liệu bản địa. Mới đây, các nhà khoa học Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiếp tục ghi dấu ấn khi nghiên cứu thành công và phát triển sản phẩm có tác dụng chống viêm phổi từ cây Quýt hôi.
Từ nguồn cây dược liệu bản địa
Quýt hôi (còn gọi là quýt hoi hay quýt rừng) là giống quýt bản địa đặc sản, mọc tự nhiên trên các sườn núi cao ở Thanh Hóa, Hòa Bình và Bắc Cạn cũ (nay là tỉnh Thái Nguyên), nổi tiếng với mùi thơm nồng, tinh dầu nhiều, vị chua đậm, được dùng làm gia vị và sử dụng trong một số bài thuốc dân gian.
Bằng việc kết hợp song song phương pháp so sánh hình thái thực vật và giải trình tự gen, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên xác định chính xác tên khoa học của Quýt hôi là Citrus × aurantium L., trong đó dấu “×” cho thấy đây là loài lai hóa tự nhiên. Kết quả này giúp làm rõ cơ sở khoa học cho cây thuốc dân gian vốn chưa được định danh đầy đủ trước đây.
Nghiên cứu nằm trong đề tài: “Nghiên cứu phát triển sản phẩm có tác dụng chống viêm phổi từ một số cây thuốc chọn lọc”, cấp Viện Hàn lâm và được thực hiện từ 1/2022 đến 06/2025, do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường, Viện Hóa học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam làm chủ nhiệm. Các nghiên cứu của nhóm tập trung khảo sát 8 cây thuốc chọn lọc có tác dụng kháng viêm trong đó có cây Quýt hôi, rễ Nhó đông, nhằm đánh giá toàn diện từ thành phần hóa học, cơ chế tác dụng đến khả năng phát triển sản phẩm.
Khi tiến hành phân tích tinh dầu lá Quýt hôi tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu còn phát hiện hàm lượng lớn các hợp chất thơm thymol và thymol methyl ether. Đây là những thành phần có liên quan đến hoạt tính sinh học và tiềm năng kháng viêm của cây dược liệu này.
Đánh giá tác dụng kháng viêm trong phòng thí nghiệm, cao chiết từ lá Quýt hôi cho thấy khả năng ức chế mạnh sự sản sinh chất tiền viêm (phản ứng miễn dịch bẩm sinh, đóng vai trò "báo động" và khởi đầu quá trình sửa chữa, bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây hại). Đây là phát hiện đáng chú ý bởi trước đó tác dụng kháng viêm của loài cây này chưa từng được chứng minh rõ ràng bằng thực nghiệm. Không chỉ Quýt hôi, rễ cây Nhó đông cũng cho thấy hoạt tính kháng viêm mạnh. Lần đầu tiên, cao ethanol 95% từ rễ cây Nhó đông được xác nhận không gây độc tính trên động vật thực nghiệm, đồng thời có khả năng ức chế các cytokine (các protein) tiền viêm quan trọng.
Từ các nguồn dược liệu nghiên cứu, nhóm đã phân lập và xác định một số hợp chất thiên nhiên có tiềm năng sinh học cao, các hợp chất này được ghi nhận có khả năng điều hòa những con đường tín hiệu liên quan đến phản ứng viêm.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường chia sẻ, tại mô hình thực nghiệm kết hợp LPS (thành phần đại diện cho vi khuẩn giúp mô phỏng sát hơn phản ứng viêm phức tạp xảy ra trong cơ thể người bệnh). Kết quả nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên này có tiềm năng trong kiểm soát hiện tượng “bão cytokine”, phản ứng miễn dịch quá mức có thể dẫn đến tổn thương phổi cấp và làm bệnh diễn tiến nghiêm trọng hơn.
Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm đã lựa chọn hai nguồn dược liệu có trữ lượng dồi dào là lá Quýt hôi và rễ Nhó đông để phát triển sản phẩm viên nang có tên HL. Trong đó, quy trình chiết xuất ethanol 95% từ lá Quýt hôi đã được xây dựng thành công ở quy mô 15 kg/mẻ. Nhóm cũng thiết lập tiêu chuẩn cơ sở và thực hiện kiểm nghiệm theo Dược điển Việt Nam V, nhằm bảo đảm tính ổn định và khả năng kiểm soát chất lượng của nguồn cao chiết.
Đến chế phẩm hỗ trợ điều trị viêm phổi
Trên cơ sở đó, viên nang HL được bào chế với thành phần chính là cao lá Quýt hôi kết hợp cao rễ Nhó đông, curcumin (từ nghệ) và menthol (từ bạc hà). “Sự phối hợp này tạo hiệu ứng hiệp đồng khi nhiều hoạt chất cùng tham gia điều hòa các cơ chế viêm khác nhau, từ giảm sản sinh cytokine, hạn chế stress oxy hóa đến hỗ trợ bảo vệ mô phổi trên mô hình viêm phổi thực nghiệm”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường cho biết.
Đáng chú ý, viên nang HL cho thấy hiệu quả tích cực trên mô hình viêm phổi thực nghiệm khi giúp giảm phù nề, hạn chế ứ dịch ở phổi và làm giảm các chất trung gian gây viêm trong đường hô hấp. Các quan sát mô bệnh học cũng cho thấy tổn thương mô phổi được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh hiệu quả chống viêm, sản phẩm còn cho thấy độ an toàn khả quan khi chưa ghi nhận dấu hiệu độc tính trong quá trình theo dõi thực nghiệm. Ở mức liều quy đổi tương đương khoảng 4 viên/ngày đối với người trưởng thành, viên nang HL vẫn duy trì tác dụng chống viêm rõ rệt.
Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá đề tài có cách tiếp cận bài bản, chiều sâu khoa học và giá trị thực tiễn thiết thực. Kết quả nghiên cứu được công bố trên 4 bài báo quốc tế, qua đó khẳng định chất lượng học thuật và mức độ hội nhập quốc tế của nhóm nghiên cứu.