Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến phát triển đội ngũ trí thức bằng nhiều chính sách và sự đầu tư lớn, do đó đội ngũ trí thức vùng Tây Bắc cùng đội ngũ trí thức Việt Nam đã có bước phát triển khá.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến phát triển đội ngũ trí thức bằng nhiều chính sách và sự đầu tư lớn, do đó đội ngũ trí thức vùng Tây Bắc cùng đội ngũ trí thức Việt Nam đã có bước phát triển khá. Số lượng đang tăng nhanh, chất lượng ngày càng được nâng cao, các ngành nghề chuyên môn rộng, phù hợp; cơ cấu giới tính được cân bằng, chênh lệch giữa các vùng miền được cải thiện. Vùng núi, vùng sâu, vùng khó khăn đã có thêm nhiều trí thức về làm việc.
Còn nhiều bất cập
Năm 1999, vùng Tây Bắc có 110.263 trí thức (số liệu của các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Phú Thọ, Lạng Sơn, Tuyên Quang), chiếm 53% số lượng trí thức vùng trung du và miền núi Bắc Bộ (hai tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang chiếm 47%), tỷ lệ đội ngũ trí thức của vùng Tây Bắc 1,4% dân số, rất thấp so với các vùng khác trên toàn quốc. Đến năm 2011, toàn vùng Tây Bắc đã có 290.973 trí thức, chiếm 3,4% dân số khu vực.
Phòng học tiếng Anh của học sinh lớp 12A Trường Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Lào Cai được trang bị hiện đại, là cơ sở nâng cao chất lượng dạy và học tại nhà trường. Quý Trung – TTXVN |
Như vậy, từ năm 1999 - 2011, tỷ lệ đội ngũ trí thức tăng 2% (từ 1,4% lên 3,4%). Trong đó Hòa Bình 6,3%, Phú Thọ 4,0%, Bắc Kạn 3,4%, Cao Bằng 3,3%, Lạng Sơn 3,3%, Yên Bái 3,2%, Lào Cai 3,1%, Tuyên Quang 3,1%, Điện Biên 3,0%, Sơn La 2,5%, Hà Giang 2,3%, Lai Châu 2,3%.
Bộ Giáo dục và Đào tạo nên mở rộng trường các trường đại học trong khu vực, tiếp tục cho thành lập các trường đại học Tân Trào, Tuyên Quang và Phan Xi Păng (Lào Cai) thành lập Trường Dự bị Dân tộc khu vực Tây Bắc, Trường PTDTNT chất lượng cao của vùng. Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ nên nghiên cứu tăng thêm biên chế đối với các xã vùng cao, vùng biên giới; có chính sách đãi ngộ đối với trí thức người DTTS công tác ở vùng cao. |
Nếu như năm 1999, đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số (DTTS) có 29.551 người, chiếm 26,8% số trí thức, 0,39% dân số thì đến năm 2011, đội ngũ trí thức người DTTS có 79.133 người, chiếm 27,2% số trí thức 0,9% dân số. Trong đó, 33 người tiến sỹ, 653 người thạc sỹ. Theo số liệu thống kê, giai đoạn 1999 - 2011, tỷ lệ đội ngũ trí thức người DTTS so với dân số đã tăng 0,53% và tỷ lệ đội ngũ trí thức người DTTS so với đội ngũ trí thức của vùng tăng 0,4%.
Hiện nay, đội ngũ trí thức người DTTS vùng Tây Bắc chiếm trên 27%, dân tộc Kinh chiếm gần 63% (khi đó người DTTS chiếm 66% dân số, dân tộc Kinh chiếm 34%). Đây là một cơ cấu bất cập, đội ngũ trí thức người DTTS tỷ lệ nghịch với dân số, tỷ lệ chênh lệch này đã tồn tại khá dài mà các cấp, các ngành đã nhận ra nhưng chưa giải quyết được.
Đội ngũ trí thức người DTTS tỷ lệ nghịch với dân số, dân số DTTS (66/34), trí thức DTTS (27/63). Phân tích số liệu năm 2011 cho thấy: Ở các DTTS cứ 8.299 người mới có một người ở bậc trên đại học, 72 người mới có một người ở bậc đại học, cao đẳng; càng ở bậc học cao tỷ lệ trí thức người DTTS càng thấp. Trong các thành phần dân tộc, các dân tộc Tày, Mường, Nùng, Thái có số lượng đội ngũ trí thức cao hơn nhiều so với các dân tộc ít người khác.
Những giải pháp lâu dài
Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức người DTTS để toàn xã hội, nhất là đồng bào ở vùng miền núi, dân tộc nắm được những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng đội ngũ trí thức và trí thức người DTTS. Từ đó nâng cao trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị các cấp trong việc chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS ngày càng phát triển toàn diện đáp ứng với nhiệm vụ trong thời kỳ mới; góp phần tạo ra môi trường làm việc thuận lợi để phát huy năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức người DTTS đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào vùng DTTS để tạo điều kiện, môi trường phát triển đội ngũ trí thức người DTTS; tiếp tục ban hành các chính sách ưu đãi phát triển sản xuất, tăng cường an sinh xã hội, nhằm từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Đẩy mạnh việc phát triển giáo dục - đào tạo ở vùng đồng bào DTTS nhằm tạo nguồn trí thức người DTTS; tập trung các nguồn lực cho phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục dân tộc để trong một thời gian ngắn, giáo dục dân tộc có sự chuyển biến thực sự về chất. Tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để đảm bảo nhu cầu dạy và học. Tăng tỷ lệ ngân sách cho giáo dục, đào tạo vùng DTTS. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức người DTTS. Đề cao trách nhiệm của đội ngũ trí thức người DTTS đối với đất nước và dân tộc. Mở rộng mạng lưới quy mô các trường đại học, cao đẳng trong vùng Tây Bắc
Các cấp ủy Đảng và chính quyền nhận thức có chiều sâu và tích cực về vai trò đội ngũ trí thức, về nguồn lực con người; đội ngũ trí thức người DTTS phát triển nhanh về số lượng, đến hết năm 2011, có 79.113 người, chiếm trên 27% tổng số trí thức, tăng 49.582 người so với năm 1999. Các địa phương đã quy hoạch phát triển đội ngũ trí thức với quyết tâm chính trị cao; quan tâm phát triển đào tạo nguồn nhân lực; tổ chức đào tạo, liên kết đào tạo bằng nhiều hình thức phong phú. Có nhiều chính sách phát triển đội ngũ trí thức người DTTS như: Phát triển hệ thống trường PTDTNT, bán trú; chính sách cử tuyển; chính sách đào tạo theo địa chỉ; chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách đào tạo, bồi dưỡng... Các chính sách này rất hiệu quả và thiết thực.
Phát huy tốt vai trò của đội ngũ trí thức người DTTS tham gia lao động sáng tạo trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện trí tuệ hóa lao động nhằm nâng cao năng suất lao động, vùng núi, vùng DTTS; thực hiện bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các DTTS nói riêng và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung; tham gia trong hệ thống chính trị các cấp, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở địa phương. Tuy nhiên, tỷ lệ đội ngũ thức người DTTS còn thấp so với cơ cấu dân số, mới đạt 27% trí thức (tỷ lệ dân số chiếm 66%). Chất lượng chưa cao nhất là các trí thức có trình độ tiến sỹ, chuyên gia đầu ngành.
Cơ cấu đội ngũ trí thức còn những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính, phân bố trên các địa bàn, dân tộc; dân tộc Kinh chiếm 34% dân số, nhưng tỷ lệ đội ngũ trí thức chiếm 63%; trong thành phần các dân tộc thì đội ngũ trí thức chỉ tập trung ở một số dân tộc như: Tày, Mường, Nùng, Thái, Dao, Mông. Bộ phận tinh hoa, hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành thiếu, đội ngũ kế cận hẫng hụt. Trong nước, chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh. Hoạt động nghiên cứu khoa học thiếu gắn bó mật thiết và chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng, phong phú của sản xuất, kinh doanh, đời sống.
Để tiếp tục phát triển đội ngũ trí thức người DTTS vùng Tây Bắc, thiết nghĩ, các địa phương trong vùng cần quan tâm, xây dựng các chính sách phát triển đội ngũ trí thức người DTTS, đảm bảo cơ cấu dân tộc, trình độ, nhất là trí thức người DTTS có trình cao.
Trương Xuân Cừ(Phó trưởng Ban phụ trách Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Tây Bắc)