06:18 11/06/2026

Phát triển công nghệ chiến lược bằng tư duy hành động mới

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào khả năng làm chủ công nghệ lõi và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Đây được xem là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực tự chủ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Chuyển từ tư duy lựa chọn công nghệ sang giải quyết bài toán thực tiễn

Theo ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã thiết lập khung pháp lý mới thay thế các quy định trước đây về công nghệ ưu tiên. Điểm đổi mới quan trọng nhất là phương thức tiếp cận trong xây dựng danh mục công nghệ chiến lược.

Nếu như trước đây việc lựa chọn công nghệ thường dựa trên xu hướng phát triển của thế giới thì nay các công nghệ ưu tiên được xác định từ chính nhu cầu thực tiễn của đất nước, từ những bài toán lớn của nền kinh tế và các lĩnh vực trọng điểm.

Chú thích ảnh
Giới thiệu ứng dụng công nghiệp mới

Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng đầu tư dàn trải hoặc chạy theo phong trào, đồng thời tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá, hình thành năng lực công nghệ thực chất và tạo ra các sản phẩm có giá trị thương mại.

Danh mục công nghệ chiến lược được phê duyệt tập trung vào nhiều lĩnh vực nền tảng như trí tuệ nhân tạo, robot, công nghệ lượng tử, an ninh mạng, công nghệ sinh học tiên tiến, năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ hàng không vũ trụ và hệ thống giao thông đường sắt hiện đại.

Đây đều là những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn. Việc tập trung phát triển các công nghệ này sẽ tạo điều kiện để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ lõi, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và xây dựng nền công nghiệp hiện đại dựa trên tri thức.

Biến định hướng thành chuỗi nhiệm vụ cụ thể

Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg nhằm cụ thể hóa các định hướng lớn thành nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể.

Theo ông Lưu Quang Minh, thực tiễn quản lý khoa học và công nghệ trong nhiều năm qua cho thấy nếu chỉ dừng ở việc xác định danh mục ưu tiên mà không có cơ chế triển khai đồng bộ, thiếu đơn vị chịu trách nhiệm và chưa gắn với nhu cầu thị trường thì nhiều kết quả nghiên cứu khó phát huy hiệu quả.

Nếu Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg trả lời câu hỏi Việt Nam cần ưu tiên phát triển công nghệ nào thì Quyết định số 808/QĐ-TTg trả lời câu hỏi những công nghệ đó sẽ được triển khai bằng nhiệm vụ gì, phục vụ bài toán nào, do ai thực hiện và tạo ra kết quả cụ thể ra sao.

Chú thích ảnh
Một số công nghệ chip bán dẫn giới thiệu tại Triển lãm về công nghiệp phụ trợ.

Theo đó, các nhiệm vụ công nghệ chiến lược được xây dựng theo chuỗi khép kín. Quá trình triển khai bắt đầu từ việc xác định nhu cầu thực tiễn, lựa chọn sản phẩm mục tiêu, xác định công nghệ lõi cần làm chủ, lựa chọn đơn vị thực hiện và xây dựng phương án thương mại hóa sản phẩm.

Cách tiếp cận mới được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng nghiên cứu tách rời thực tiễn, nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Để các kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành sản phẩm, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ xây dựng các hạ tầng nền tảng phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Trong đó, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, trung tâm dữ liệu lớn phục vụ trí tuệ nhân tạo, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm và đánh giá công nghệ đạt chuẩn quốc gia sẽ là những yếu tố then chốt.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ và các chính sách hỗ trợ thương mại hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các sản phẩm công nghệ Việt Nam ra thị trường.

Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm

Một điểm nhấn quan trọng trong các chính sách mới là xác định phát triển công nghệ chiến lược không phải nhiệm vụ riêng của ngành khoa học và công nghệ mà cần sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu.

Theo mô hình triển khai mới, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò điều phối, kết nối và hoàn thiện cơ chế để tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

Các bộ, ngành và địa phương là chủ thể trực tiếp xác định các bài toán lớn trong phạm vi quản lý, đồng thời xây dựng cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm tạo điều kiện cho các sản phẩm công nghệ mới phát triển.

Đáng chú ý, doanh nghiệp được xác định là trung tâm của quá trình phát triển công nghệ chiến lược. Doanh nghiệp không chỉ đầu tư nguồn lực mà còn trực tiếp nghiên cứu, phát triển sản phẩm, tổ chức sản xuất và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Trong khi đó, các viện nghiên cứu và trường đại học tập trung phát triển công nghệ nguồn, cung cấp tri thức nền tảng và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ chiến lược.

Sự gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học được kỳ vọng sẽ hình thành chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.

Theo các chuyên gia, đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Thay vì hỗ trợ riêng lẻ từng đề tài, dự án, các chính sách mới hướng tới phát triển đồng bộ theo chuỗi giá trị, lấy sản phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo.

Về lâu dài, cách tiếp cận này sẽ góp phần hình thành năng lực công nghệ nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp mới dựa trên tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.

Việc chuyển từ tư duy lựa chọn công nghệ sang tư duy giải quyết các bài toán lớn của quốc gia được xem là nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược, tạo động lực tăng trưởng mới và nâng cao vị thế của đất nước trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc