07:14 23/07/2026

Phát huy động lực truyền thống, tạo đà cho tăng trưởng cuối năm

Ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, những tháng cuối năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, đặc biệt là xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại và những biến động địa chính trị.

Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng trong nửa cuối năm vẫn còn khá lớn, nhất là ở lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; đồng thời tiếp tục phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống nhằm tạo đà cho tăng trưởng những tháng cuối năm. 

Chú thích ảnh
Về ngành kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực quan trọng nhất do có quy mô lớn và đóng góp cao nhất vào tăng trưởng GDP. Ảnh minh họa: Tuấn Anh/TTXVN

Bên cạnh những áp lực thì nền kinh tế vẫn có nhiều yếu tố thuận lợi để duy trì đà tăng trưởng. Theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê (Bộ Tài chính), các động lực tăng trưởng truyền thống cần tiếp tục được duy trì và phát huy vai trò nền tảng, gồm đầu tư, sản xuất - xuất khẩu và tiêu dùng, tạo thành trục tăng trưởng chính của nền kinh tế.

Đầu tư công tiếp tục là động lực dẫn dắt trong quý II/2026 khi tiến độ giải ngân được cải thiện so với cùng kỳ, nhất là tại các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao. Việc các địa phương đẩy mạnh giải ngân không chỉ thúc đẩy tăng trưởng ngành xây dựng và các lĩnh vực liên quan mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tới đầu tư tư nhân, góp phần nâng cao năng lực sản xuất và kết nối hạ tầng trong trung, dài hạn.

Cùng đó, sản xuất và xuất khẩu tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong bối cảnh cầu thế giới phục hồi chậm và còn nhiều rủi ro. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng tích cực từ quý I/2026, phản ánh sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước. Xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng, tạo động lực cho sản xuất và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế.

TS. Lương Thanh Hà, Giảng viên Học viện Ngân hàng cho biết, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình có xu hướng cải thiện, góp phần ổn định tổng cầu và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Sức cầu trong nước được hỗ trợ bởi yếu tố mùa vụ và sự phục hồi của các ngành dịch vụ, nhất là du lịch, lưu trú và giải trí; đồng thời, cơ cấu tiêu dùng tiếp tục chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.

Còn theo ông Lê Trung Hiếu, để đạt được mục tiêu tăng trưởng khoảng 11,7% trong 6 tháng cuối năm, các địa phương cần phát huy tối đa các động lực tăng trưởng hiện có và khai thác hiệu quả những không gian tăng trưởng còn lại ở một số ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Về ngành kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực quan trọng nhất do có quy mô lớn và đóng góp cao nhất vào tăng trưởng GDP. Bên cạnh đó, ngành khai khoáng còn khả năng tăng thêm sản lượng nhờ nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án hạ tầng và việc đưa một số mỏ dầu, khí mới vào khai thác.

Khu vực dịch vụ, nhất là thương mại, vận tải, logistics và du lịch, cũng còn nhiều điều kiện để tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cùng với sự phục hồi của sản xuất và tiêu dùng.

Về địa phương, các cực tăng trưởng có quy mô kinh tế lớn sẽ tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hiện chiếm gần 36% GDP cả nước; năm địa phương có quy mô kinh tế lớn nhất chiếm trên 50% GDP.

Bên cạnh đó, nhiều trung tâm công nghiệp như Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Nguyên, Đồng Nai và Tây Ninh đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao và tiếp tục là những địa phương có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng chung của cả nước.

“Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng của những tháng cuối năm, điều quan trọng không chỉ là khai thác dư địa của từng ngành hay từng địa phương, mà phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư”, Phó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu nhấn mạnh.

Điều này bao gồm cả các công trình đầu tư công trọng điểm quốc gia, các dự án FDI quy mô lớn và đặc biệt là các dự án hạ tầng, công nghiệp, năng lượng, đô thị của khu vực kinh tế tư nhân đang được triển khai. Khi các dự án này sớm hoàn thành và đi vào hoạt động, sẽ tạo thêm năng lực sản xuất mới, lan tỏa sang nhiều ngành, nhiều địa phương và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.

Cục Thống kê cho biết, GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18%, trong khi CPI bình quân được kiểm soát ở mức 4,38%. Từ góc độ thống kê, ông Lê Trung Hiếu nhận thấy nội lực của nền kinh tế được thể hiện khá rõ ở sự chuyển dịch của các động lực tăng trưởng. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô thì hiện nay đang chuyển mạnh sang công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành có hàm lượng công nghệ cao.

Sáu tháng đầu năm, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%, tiếp tục là động lực lớn nhất của tăng trưởng; riêng ngành điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng tới 14,7%. Cùng với đó, vốn FDI đăng ký đạt gần 35 tỷ USD, tăng 61%; trong đó, 63% tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo. Điều này cho thấy Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các dự án điện tử, chip, bán dẫn, thiết bị công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ.

Bên cạnh đó, cả ba khu vực của nền kinh tế đều tăng trưởng tích cực. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là bệ đỡ ổn định; công nghiệp và xây dựng giữ vai trò động lực chính; khu vực dịch vụ phục hồi mạnh nhờ thương mại, vận tải, du lịch và tiêu dùng trong nước…

Mặc dù, với những kết quả đã đạt được, theo lãnh đạo Cục Thống kê, trong những tháng cuối năm, kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn. Cụ thể, bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn khi xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ và rào cản kỹ thuật gia tăng, làm tăng rủi ro đối với xuất khẩu. Nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu chủ lực phục hồi chậm, trong khi lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao và chi phí logistics tăng, tạo áp lực lên tỷ giá, lạm phát nhập khẩu và chuỗi cung ứng.

Cùng với đó, động lực tăng trưởng từ xuất khẩu có xu hướng suy giảm do nhu cầu tiêu dùng yếu, cạnh tranh quốc tế gay gắt và giá nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm. Bên cạnh đó, xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào một số thị trường và nhóm hàng chủ lực, trong khi giá trị gia tăng trong nước còn thấp, làm gia tăng tính dễ tổn thương trước biến động thương mại toàn cầu.

Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng, nhưng nhiều dự án vẫn vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và năng lực triển khai, làm hạn chế hiệu ứng lan tỏa đến các ngành liên quan.

Khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn về dòng tiền, tiếp cận tín dụng, chi phí logistics và thị trường đầu ra; khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn chậm dù lãi suất đã giảm.

Bên cạnh đó, áp lực điều hành kinh tế vĩ mô vẫn hiện hữu do biến động tỷ giá, chính sách tiền tệ quốc tế, giá năng lượng và nguyên liệu thế giới, cùng lộ trình điều chỉnh giá một số hàng hóa, dịch vụ. Thị trường bất động sản tuy có tín hiệu phục hồi nhưng còn phân hóa, nguồn cung nhà ở đáp ứng nhu cầu thực còn hạn chế và nhiều doanh nghiệp vẫn khó khăn về tài chính, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của ngành xây dựng và các lĩnh vực liên quan…

Thúy Hiền (TTXVN)