08:15 29/08/2026

Nuôi dưỡng nguồn thu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tư nhân

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, thiết kế chính sách thuế đối với khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) phù hợp, đáp ứng mục tiêu huy động nguồn lực trong nước là nhiệm vụ cấp thiết.

Áp thuế phù hợp khu vực kinh tế tư nhân

Theo PGS.TS. Lý Phương Duyên (Học viện Tài chính), những thay đổi từ năm 2025 cho thấy chính sách thuế được sử dụng tích cực hơn, giảm hạn chế tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp mới và các hoạt động đổi mới.

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) số 67/2025/QH15 quy định mức thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng, 17% đối với doanh nghiệp có doanh thu trên 3 tỷ đến không quá 50 tỷ đồng, bên cạnh mức thuế suất phổ thông 20%.

“Từ năm 2026, Nghị định số 141/2026/NĐ-CP bổ sung miễn thuế TNDN đối với doanh nghiệp đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu năm từ 1 tỷ đồng trở xuống. Các chính sách thuế gần đây cho thấy xu hướng sử dụng ưu đãi có mục tiêu, nhằm hỗ trợ quá trình hình thành, tích lũy và đổi mới của khu vực KTTN”, PGS.TS. Lý Phương Duyên cho biết.

Mới đây,  chính sách giảm 30% thuế TNDN và thu nhập cá nhân (TNCN) trong các năm 2026 - 2027 đối với các chủ thể kinh doanh đáp ứng điều kiện về doanh thu tiếp tục làm giảm nghĩa vụ thuế trong ngắn hạn.

Chú thích ảnh
Nhiều chính sách ưu đã để kích thích tiêu dùng cho nền kinh tế. Ảnh: Hương Giang/TTXVN

Nhiều ý kiến cho rằng, xét về kinh tế, các chính sách này thể hiện sự dịch chuyển từ ưu tiên huy động nguồn thu hiện tại sang dành lại một phần nguồn lực cho đầu tư, đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Chính sách phát triển KTTN của Việt Nam đã việc đưa giảm chi phí trở thành mục tiêu rõ nét.

Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15 đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ pháp luật và 30% điều kiện kinh doanh; đồng thời, quy định cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung và một số dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh.

Bên cạnh giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ thường xuyên, Nghị quyết số 198/2025/QH15 ưu tiên thanh tra, kiểm tra từ xa dựa trên dữ liệu điện tử, giảm kiểm tra trực tiếp và miễn kiểm tra thực tế đối với các chủ thể tuân thủ tốt.

Tuy nhiên, đại diện Học viện Tài chính cũng đề xuất, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ cần được nhìn theo một quá trình liên tục từ hộ kinh doanh đến doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn. Khi doanh nghiệp chuyển giữa các nhóm, thay đổi về nghĩa vụ thuế và tuân thủ cần đủ thời gian và lộ trình thích hợp để người nộp thuế có thể thấy lợi ích của việc mở rộng so với mức tăng đột ngột của chi phí thuế và chi phí tuân thủ.

Đối với các ngưỡng doanh thu đang có ý nghĩa trong hệ thống thuế, cần xây dựng cơ chế theo dõi phản ứng bằng dữ liệu. “Nếu xuất hiện mật độ người nộp thuế tập trung bất thường ngay dưới ngưỡng, cơ quan hoạch định chính sách có thể tiến hành nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng tập trung quanh ngưỡng, chia tách hoạt động hoặc trì hoãn tăng trưởng. Việc theo dõi này nên được thực hiện ngay sau một thời gian ban hành chính sách, không phải là căn cứ để kết luận các ngưỡng hiện hành đang không phù hợp”, PGS.TS. Lý Phương Duyên đê xuất.

Gỡ bỏ rào cản về tài sản thế chấp

Chú thích ảnh
Cà Mau nâng cao giá trị tôm càng xanh. Ảnh Tuấn Phi/TTXVN

Để KTTN thực sự trở thành động lực tăng trưởng, các chuyên gia kinh tế cũng nhấn mạnh, việc gỡ bỏ rào cản tài sản thế chấp để chuyển sang đánh giá bằng dòng tiền và năng lực công nghệ là lối mở cho doanh nghiệp và yêu cầu sống còn để nền kinh tế bứt tốc.

Tại Hội thảo "Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính KTTN: Động lực cho tăng trưởng kinh tế" do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính tổ chức mới đây, nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10% mỗi năm trở lên. Đây là một con số đầy tham vọng, đòi hỏi sự thay đổi căn bản về tư duy huy động và sử dụng nguồn lực.

Trong bức tranh tổng thể đó, khu vực KTTN không còn chỉ là thành phần bổ trợ, mà đã trở thành nguồn lực nội sinh đóng vai trò hạt nhân, tạo động lực trực tiếp để nâng cao năng suất và đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Hiện nay, quy mô của khu vực tư nhân đã mở rộng đáng kể. Tính đến hết tháng 7/2026, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký lên tới 30,835 triệu tỷ đồng. Đáng chú ý, khu vực tư nhân chiếm tới 77,9% tổng quy mô vốn này. Không chỉ dừng lại ở con số đăng ký trên giấy tờ, nguồn lực tài chính thực tế nằm trong dân cư và doanh nghiệp là một "mỏ vàng" vô cùng lớn nhưng chưa được khơi thông triệt để.

Dẫn chứng từ các số liệu nghiên cứu, lượng tiền gửi của người dân tại hệ thống ngân hàng ước tính đạt khoảng 200 tỷ USD vào năm 2025. Bên cạnh đó, Hiệp hội kinh doanh vàng thế giới dự báo lượng vàng tích trữ trong dân Việt Nam vào khoảng 400 - 500 tấn, tương đương hàng chục tỷ USD.

Đặc biệt, một nguồn lực mới nổi là tài sản số và tiền mã hóa tại Việt Nam đang sở hữu giá trị khoảng 220 - 230 tỷ USD. Những con số này cho thấy khả năng tích lũy của khu vực tư nhân rất lớn, vấn đề cốt lõi là làm sao để chuyển hóa những tài sản "ngủ đông" này thành dòng vốn đầu tư vào sản xuất và công nghệ.

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong những năm tới đòi hỏi Việt Nam huy động khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030. Đây là một thách thức khi hệ thống ngân hàng hiện tại chỉ có thể đáp ứng khoảng 25 - 30%, trong khi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn ngoại đóng góp thêm khoảng 15 - 20%. Khoảng trống tài chính còn lại lên tới hàng trăm tỷ USD buộc phải huy động từ các nguồn lực xã hội khác.

Theo bà Nguyễn Thị Thu, Ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính (Bộ Tài chính), việc thúc đẩy tăng trưởng bằng cách tiếp tục dựa quá mức vào tín dụng ngân hàng sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát và khủng hoảng nợ. Thay vào đó, Việt Nam cần chuyển mạnh sang một hệ sinh thái tài chính đa dạng. Điều này bao gồm việc phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư mạo hiểm và đặc biệt là các mô hình hợp tác công tư (PPP) để dẫn dắt dòng vốn tư nhân vào các hạ tầng chiến lược.

Tuy nhiên, khu vực KTTN vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản. Th.S Nguyễn Thị Chinh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính đã chỉ ra cấu trúc khu vực tư nhân Việt Nam hiện vẫn còn phân mảnh.  Phần lớn doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ và nhỏ, năng lực công nghệ và quản trị còn hạn chế. Đặc biệt, động lực đầu tư tư nhân trong giai đoạn 2021 - 2025 có dấu hiệu suy giảm, chỉ tăng bình quân 4,1% mỗi năm, thấp hơn nhiều so với giai đoạn trước đó.

Một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất là khả năng tiếp cận vốn. Khoảng 93,5% các khoản vay tại Việt Nam vẫn yêu cầu tài sản thế chấp, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Malaysia hay Thái Lan. Điều này vô hình trung đã loại bỏ cơ hội của những doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, những đơn vị có thế mạnh về trí tuệ và mô hình kinh doanh mới nhưng thiếu tài sản hữu hình. Bên cạnh đó, chi phí không chính thức và thủ tục hành chính rườm rà vẫn là gánh nặng khiến doanh nghiệp e dè trong việc mở rộng quy mô đầu tư dài hạn.

Để khơi thông nguồn lực, TS. Nguyễn Thị Luyến, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược đề xuất, cần một sự thay đổi mang tính cách mạng trong điều hành. Việt Nam cần chuyển từ cơ chế cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu doanh nghiệp. 

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) nhận định, cần xây dựng một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và khu vực FDI. Vốn FDI cần được định hướng vào các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, hạ tầng xanh và phải có cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Khi các tập đoàn tư nhân lớn đóng vai trò "đầu tàu" dẫn dắt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.

Chính sách tài chính cần tập trung vào việc bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh để tạo niềm tin tuyệt đối cho nhà đầu tư. Khi thể chế đủ thông thoáng, thị trường vốn đủ sâu và môi trường kinh doanh minh bạch, nguồn lực tài chính khổng lồ trong xã hội sẽ được giải phóng.

Đó chính là động lực mạnh mẽ nhất để Việt Nam không chỉ đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số mà còn tạo nền tảng vững chắc để trở thành nước phát triển vào năm 2045.

Theo ThS Tạ Vũ Duy Anh, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), khu vực tư nhân vẫn đối mặt nhiều điểm nghẽn. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính hạn chế, năng lực quản trị chưa cao. Công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất lao động còn yếu, sức cạnh tranh chưa tương xứng. Nhiều doanh nghiệp thiếu chiến lược, liên kết còn yếu.

Để khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển. Trọng tâm là giúp nguồn lực tư nhân được huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả; cải cách thủ tục cần thúc đẩy liên kết chuỗi, mở rộng vốn, hỗ trợ đổi mới công nghệ.
Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc