Hội nghị Khoa học Kỹ thuật năm 2025 do Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hoàn Mỹ Thủ Đức tổ chức ngày 12/12 tập trung vào cập nhật các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong chẩn đoán - điều trị và nâng cao quản lý chất lượng bệnh viện. Sự kiện quy tụ hơn 200 chuyên gia, khẳng định yêu cầu cấp thiết của ngành y trong việc hướng đến chuẩn khu vực và quốc tế.
Theo Thạc sĩ Phạm Tuấn Phú, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hoàn Mỹ Thủ Đức, hiện nay hệ thống y tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ, việc cập nhật liên tục các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và nâng cao quản lý chất lượng trở thành yêu cầu tất yếu đối với mỗi cơ sở khám chữa bệnh.
TS.BS Cao Đằng Khang, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Nhi và Can thiệp tim bẩm sinh TP Hồ Chí Minh chia sẻ về những thành quả kỹ thuật ghép tim tại Việt Nam.
Trên tinh thần đó, hội nghị năm nay được tổ chức với chủ đề “Cập nhật những tiến bộ trong chăm sóc sức khỏe và quản lý chất lượng bệnh viện”, với gần 30 báo cáo khoa học phản ánh những vấn đề thời sự, gắn với thực tiễn điều trị và quản lý bệnh viện. Nội dung trải rộng từ ngoại khoa, nội khoa, hồi sức cấp cứu, sản - nhi, cận lâm sàng, dược lâm sàng, đến điều dưỡng, kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý chất lượng và chuyển đổi số y tế.
"Hội nghị là diễn đàn để đội ngũ lâm sàng và quản trị chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu, qua đó góp phần duy trì và phát huy tinh thần cải tiến chất lượng, bảo đảm an toàn người bệnh và hướng đến phát triển bền vững trong hoạt động khám chữa bệnh", ông Phạm Tuấn Phú nhấn mạnh.
Tại phiên toàn thể, các đại biểu trình bày nhiều tham luận mang tính dẫn dắt về chuyên môn và quản trị bệnh viện. Các nội dung tập trung vào những vấn đề nổi bật của thực hành lâm sàng hiện nay như xử trí gãy xương vùng mấu chuyển xương đùi với lựa chọn giữa thay khớp và kết hợp xương; vai trò của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị trượt đốt sống thắt lưng; cập nhật kết quả triển khai chương trình ghép tim.
Bên cạnh đó, các chủ đề gắn với quản lý sức khỏe cộng đồng và vận hành bệnh viện, gồm xu hướng mới trong kiểm soát tăng huyết áp tại tuyến chăm sóc ban đầu, quản trị lâm sàng lấy người bệnh làm trung tâm, quản lý rủi ro theo chuẩn ACHSI và thực hành tư vấn tiêm chủng người lớn từ khuyến cáo đến triển khai thực tế.
Các báo cáo tại hội nghị cũng được trưng bày tại khu vực triển lãm.
TS.BS Cao Đằng Khang, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Nhi và Can thiệp tim bẩm sinh TP Hồ Chí Minh nhận định, ngành y tế Việt Nam cần chuyển dịch từ vai trò “người đi sau” học hỏi kỹ thuật của các nước phát triển sang chủ động cải tiến, từng bước trở thành “người đi đầu” trong ứng dụng và hoàn thiện kỹ thuật. Bác sĩ Khang cho rằng, dù còn nhiều thách thức, mục tiêu này hoàn toàn khả thi, đặc biệt trong lĩnh vực tim mạch.
Theo TS.BS Cao Đằng Khang, các kỹ thuật phẫu thuật ít xâm lấn đã có những tiến bộ rõ rệt, từ mổ tim với đường rạch dài chuyển sang đường rạch ngắn, giúp hạn chế sẹo và nâng cao tính thẩm mỹ. Đáng chú ý, kỹ thuật ghép tim tại Việt Nam dù triển khai muộn hơn nhiều quốc gia nhưng đã ghi nhận bước tiến mạnh mẽ. Sau 16 năm, cả nước đã xây dựng được 6 trung tâm ghép tim và thực hiện thành công gần 200 ca. Riêng trong năm 2025, số ca ghép tim tại Việt Nam đã đạt đến 50 ca, một con số cho thấy mức tăng trưởng vượt bậc.
Song song đó, hội nghị còn tổ chức các phiên chuyên đề. Cụ thể, tại phiên lâm sàng, nhiều báo cáo được đánh giá cao về giá trị ứng dụng gồm nghiên cứu thực trạng ngừng hô hấp tuần hoàn ngoại viện; phẫu thuật nội soi mở ống mật chủ kết hợp nội soi đường mật; tạo hình bản sống cổ lối sau; tạo hình thân đốt sống bằng bơm xi măng sinh học qua da...
Ở phiên quản lý chất lượng - điều dưỡng - kiểm soát nhiễm khuẩn, các báo cáo tập trung vào nâng cao hiệu quả vận hành và trải nghiệm người bệnh như đánh giá chất lượng hồ sơ bệnh án nội trú; giáo dục sức khỏe cho sản phụ sau sinh; tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 và tăng huyết áp; xây dựng văn hóa vệ sinh tay; ứng dụng công nghệ thông tin trong tư vấn sử dụng thuốc.
Các phiên thảo luận diễn ra sôi nổi, tập trung vào chuẩn hóa thực hành lâm sàng, quản trị chất lượng và khả năng nhân rộng các mô hình hiệu quả trong hệ thống bệnh viện.