Sáng 5/8, thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đại biểu Quốc hội cho rằng, dự thảo luật có nhiều điểm mới, tăng cường kỷ cương, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh An Giang và Quảng Trị thảo luận ở tổ. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đại biểu Nguyễn Thanh Liêm (Quảng Trị) chỉ ra 4 vấn đề bất cập trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước liên quan đến việc người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hiện nay.
Một là, một số người lợi dụng hợp đồng lao động để khi sắp hết hạn hoặc vừa sang nước ngoài thì bỏ trốn để tìm mức thu nhập cao hơn.
Hai là, doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu ở nước ngoài, muốn đưa lao động người Việt sang nhưng không biết ai giải quyết thủ tục.
Ba là, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp tổ chức đưa người đi lao động ở nước ngoài nên có những công ty mở chi nhánh ở địa phương khiến địa phương rất khó khăn trong việc xác định có hợp pháp không.
Bốn là, tình trạng lợi dụng danh nghĩa của hợp đồng lao động để tổ chức các hoạt động lừa đảo, trong đó có cả hoạt động buôn người.
Theo đại biểu Liêm, dự thảo luật sửa đổi đã có quy định cần thiết để xử lý 4 bất cập trên, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài.
Đi vào cụ thể, đại biểu góp ý vào quy định điểm e, khoản 11 Điều 1: “thông tin báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài ngay sau khi có thông tin về vụ việc có ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động hoặc tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, an toàn địa điểm tiếp nhận”. Theo đại biểu, không chỉ là “thông tin báo cáo”, mà nên sử dụng từ “báo cáo và cập nhật”, bởi có những sự việc diễn ra thường xuyên, báo cáo một lần là đủ mà cần phải cập nhật tình hình để cơ quan chức năng chủ động xử lý.
Bên cạnh đó, bổ sung quy định về cơ chế liên lạc một cách chủ động. Tổ chức đưa người Việt Nam sang lao động ở địa điểm nào thì phải chủ động liên lạc với cơ quan đại diện của Việt Nam tại khu vực đó, tránh hiện tượng xảy ra vụ việc mới đi tìm kiếm, gây độ trễ, ảnh hưởng đến công tác bảo hộ công dân, không bảo đảm các quyền lợi cần thiết.
Đại biểu Lý Anh Thư (An Giang) đề nghị doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đến cùng trong việc tuyển chọn, đánh giá và lựa chọn người lao độngđi làm việc ở nước ngoài để ngăn chặn tình trạng môi giới trái phép và xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm khi phát sinh vi phạm.
Phân tích khoản 2 Điều 1 dự thảo luật về chính sách ưu tiên lao động kỹ thuật cao, đại biểu Lý Anh Thư cho rằng, nếu chỉ nhấn mạnh về lao động kỹ thuật cao mà thiếu đi nguyên tắc bao trùm của chính sách có thể làm thu hẹp cơ hội đối với lao động phổ thông. Lao động phổ thông hiện nay đa phần là phụ nữ, người dân tộc thiểu số và người ở địa bàn khó khăn, đây là đối tượng được tạo điều kiện đi lao động ở nước ngoài để cải thiện được đời sống.
Bà đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm nguyên tắc theo hướng không phân biệt đối xử, công khai tiêu chí, ngành nghề ưu tiên dành cho cơ chế đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, tín dụng an toàn và tư vấn cho nhóm dễ bị tổn thương. Chính sách thu hút sau khi về nước cần gắn với việc công nhận kỹ năng tay nghề, kết nối với doanh nghiệp khởi nghiệp.
Khoản 4 Điều 1 về hành vi, công việc và khu vực bị cấm cần mở rộng thêm các hành vi lừa dối, bóc lột, cấm công việc hoặc khu vực liên quan đến an ninh, đạo đức, sức khỏe, chiến sự hoặc nơi có khuyến cáo. Đồng thời, quy định tiêu chí đánh giá rủi ro, xác định cơ quan có thẩm quyền ban hành, có cơ chế khẩn cấp rà soát định kỳ…
Theo đại biểu Lý Hương (Lào Cai), hiện nay, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là Hàn Quốc có nhu cầu tiếp nhận lao động thời vụ trong các lĩnh vực như nông nghiệp, chế biến nông sản, du lịch, dịch vụ và một số ngành nghề khác với thời gian làm việc từ 5 tháng đến dưới 12 tháng. Lao động thời vụ là hình thức hợp tác lao động quốc tế đang được nhiều địa phương quan tâm vì phù hợp với điều kiện của lao động nông thôn, lao động dân tộc thiểu số, lao động có trình độ tay nghề chưa cao; góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Thực hiện Nghị quyết 59/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thí điểm thực hiện đưa người lao động đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc theo hình thức hợp tác giữa các địa phương của hai nước, cũng như nhiều địa phương trên cả nước đã ký kết các thỏa thuận hợp tác với chính quyền địa phương của Hàn Quốc để triển khai chương trình đưa người lao động đi làm việc thời vụ, nhiều thỏa thuận mới được ký kết (Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai đang thực hiện 7 thỏa thuận hợp tác với các địa phương phía Hàn Quốc và đã đưa 564 người lao động đi làm việc thời vụ tại các địa phương này).
Chương trình đã góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt là trong thời gian nông nhàn, từ đó tạo nguồn thu nhập ổn định, góp phần tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo và thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới.
Người lao động làm việc tại Hàn Quốc tích lũy được vốn, kỹ năng làm việc và ý thức kỷ luật lao động công nghiệp, sau khi kết thúc hợp đồng về nước sẽ là tiền đề thuận lợi để khởi nghiệp tại địa phương. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống kinh tế của từng gia đình mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế cộng đồng, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, Chương trình thí điểm tiếp tục đưa người lao động Việt Nam đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc theo hình thức hợp tác giữa các địa phương của hai nước trong thời hạn 5 năm từ ngày 1/1/2022, nên chưa có quy định tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với người lao động tham gia Chương trình; chưa có quy định từ trung ương về các chế độ chính sách hỗ trợ người lao động về vay vốn, hỗ trợ ban đầu (từ các nguồn vốn hỗ trợ) và các quy định khác như: các khoản chi phí, việc ký quỹ, hỗ trợ cho vay để ký quỹ, về các biện pháp bảo lãnh, ký quỹ của người lao động mang tính ràng buộc, trách nhiệm cao để hạn chế việc người lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc, cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.
Mặt khác, phía Hàn Quốc vẫn còn tình trạng chủ sử dụng lao động chấp nhận lao động bất hợp pháp và môi giới trục lợi nên đã xảy ra tình trạng người lao động bỏ trốn; làm việc bất hợp pháp, gây mất an ninh trật tự tại nước sở tại; dễ bị lạm dụng sức khỏe, tiền bạc; làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác về lao động giữa hai nước.
Đây là chương trình phi lợi nhuận, không có đơn vị sự nghiệp của bộ chủ quản hỗ trợ việc kết nối, quản lý lao động xuất cảnh đi làm việc. Đơn vị sự nghiệp công về dịch vụ việc làm tại địa phương hầu hết chưa đủ năng lực, nguồn nhân lực để hỗ trợ số lượng lớn người lao động thực hiện thủ tục để đủ điều kiện xuất cảnh và quản lý lao động đang làm việc tại Hàn Quốc.
Các địa phương của Hàn Quốc đều có giới thiệu, chỉ định các doanh nghiệp của Hàn Quốc, Việt Nam tham gia hỗ trợ tuyển chọn, làm hồ sơ, quản lý, giám sát lao động theo các mức độ khác nhau, tiềm ẩn yếu tố rủi ro.
Đại biểu Lý Hương đề nghị nghiên cứu bổ sung phương thức đưa người lao động đi làm việc thời vụ ở nước ngoài theo chương trình hợp tác giữa chính quyền địa phương của hai nước vào luật, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hoàn thiện cơ sở pháp lý và mở rộng cơ hội việc làm cho người lao động.