Phụ nữ là nguồn tài nguyên lớn nhất của Nhật Bản chưa được khai thác hết”, đó là nhận xét của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hồi tháng 4 vừa qua, khi ông công bố một loạt giải pháp nhằm thúc đẩy nền kinh tế đang tăng trưởng ì ạch của nước này.
Phụ nữ là nguồn tài nguyên lớn nhất của Nhật Bản chưa được khai thác hết”, đó là nhận xét của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hồi tháng 4 vừa qua, khi ông công bố một loạt giải pháp nhằm thúc đẩy nền kinh tế đang tăng trưởng ì ạch của nước này.
|
3/4 phụ nữ Nhật muốn trở lại làm việc sau khi sinh con. |
Thường thì vấn đề bình đẳng giới trong lao động - việc làm được xem xét dưới góc độ xã hội nhiều hơn. Song ở Nhật Bản, việc Thủ tướng phải viện dẫn đến mục tiêu phát triển kinh tế để tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động của đất nước là có lý do của nó.
Theo chuyên gia Kathy Matsui thuộc tập đoàn tài chính ngân hàng Goldman Sachs, tỷ lệ nam giới có việc làm ở Nhật Bản là 80%, cao nhất trong các nước OECD, còn tỷ lệ này đối với phụ nữ là 60%. Nếu khoảng cách này được san bằng, nguồn lao động của Nhật Bản sẽ được bổ sung khoảng 8,2 triệu lao động nữ và như vậy có thể nâng GDP của Nhật thêm khoảng 14%.
Thủ tướng Shinzo Abe đang tìm cách buộc các công ty phải chung tay giải quyết vấn đề. Ông ra chỉ tiêu mỗi công ty Nhật phải có ít nhất một lãnh đạo nữ và hứa sẽ hỗ trợ thuế cho những công ty tạo điều kiện cho phụ nữ quay trở lại làm việc sau sinh.
Mặc dù từ năm 1986 Nhật Bản đã ra luật về tạo cơ hội việc làm bình đẳng cho lao động nam và nữ, song bình đẳng giới thật sự ở mỗi công ty nước này vẫn là “giấc mơ xa vời”.
Cô Naoko Toyoda đã có thâm niên 10 năm làm việc cho một công ty máy tính. Tuy nhiên, sau khi sinh con đầu lòng, trở lại công ty cô phải bắt đầu lại từ đầu. "Phụ nữ nếu quyết định chưa sinh con sẽ được tiếp tục thăng tiến, còn ngược lại, họ sẽ bị đối xử như những người sắp nghỉ hưu", Toyoda nói. Cô cũng không trông đợi một sự giải quyết linh hoạt từ công ty. Vì theo cô: "Nếu có một trường hợp ngoại lệ, những phụ nữ khác sẽ phàn nàn rằng họ đã bị đối xử bất công". Do đó, cô quyết định thôi việc.
Theo Goldman Sachs, khoảng 70% phụ nữ Nhật quyết định nghỉ việc sau khi sinh con. Tỷ lệ này lớn gấp đôi Mỹ và Đức. Nhưng không giống như châu Âu và Mỹ, chăm sóc con cái là nguyên nhân chính khiến phụ nữ nghỉ việc. Còn tại Nhật Bản, môi trường làm việc đòi hỏi cao, chẳng hạn nhân viên phải có mặt tại văn phòng và ít sự linh động trong sự nghiệp, buộc họ phải bỏ việc.
Một khảo sát do Trung tâm Chính sách Đời sống Việc làm tiến hành năm 2011 phát hiện rằng tới 3/4 phụ nữ Nhật muốn trở lại làm việc sau khi sinh con, nhưng chỉ 43% số này xoay xở được để tiếp tục sự nghiệp. Nhưng họ cũng thường gặp các trở ngại rất lớn như bị giảm lương, hay giống như Toyoda, cảm thấy bị "cho ra rìa" ngay trong công ty.
Tập đoàn mỹ phẩm Shiseido là một doanh nghiệp thực hiện chế độ với phụ nữ rất tốt ở Nhật Bản. Kể từ năm 1990, chương trình hỗ trợ trẻ em của tập đoàn này được cải tiến không ngừng, cho phép nhân viên được nghỉ chăm sóc con nhỏ dài hơn, giờ làm việc ít hơn, hỗ trợ chăm sóc trẻ em và cung cấp nhà trẻ ngay tại nơi làm. Tập đoàn cũng có kế hoạch tăng tỷ lệ lãnh đạo nữ.
Tuy vậy, Shigeto Ohtsuki, Giám đốc Nhân sự của Shiseido vẫn phải thừa nhận tình trạng bình đẳng giới trong lao động đang “chuyển biến rất chậm”. Cô cho biết tại các chi nhánh ở trong nước tỷ lệ lãnh đạo nữ của Shiseido là 25,6%, trong khi ở văn phòng nước ngoài tỷ lệ này là gần 60%.
Nhật Bản cũng rất nổi tiếng với tình trạng dân số ngày càng già đi. Tỷ suất sinh đẻ đang giảm nhanh, dân số ngày càng già đi và số người trong độ tuổi lao động ít hơn so với người nghỉ hưu. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo dân số Nhật Bản sẽ giảm khoảng 30% vào năm 2055.
Nỗ lực xây dựng môi trường làm việc hấp dẫn hơn cho phụ nữ của Thủ tướng Abe, không chỉ vì lý do để đảm bảo sự cân bằng giới, mà còn là vấn đề sống còn của nền kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, người ta vẫn còn phải chờ xem ông chủ các công ty của Nhật có nghiêm túc thực hiện kêu gọi của Thủ tướng hay không.
Lê Hoàng