Dù hành lang pháp lý cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được “cởi trói” mạnh mẽ với nhiều cơ chế đặc thù, nhưng không ít nhà khoa học vẫn chần chừ, e ngại rủi ro và lựa chọn những đề tài “an toàn”.
Tâm lý sợ sai đang trở thành lực cản vô hình đối với các nghiên cứu đột phá, buộc cơ quan quản lý phải chuyển từ thế chờ đợi sang chủ động tạo cơ chế, môi trường và động lực đủ mạnh để “kéo” nhà khoa học rời khỏi 'vùng an toàn'.
Nhà khoa học còn e dè, sợ sai
Có một nghịch lý hiện nay là số lượng văn bản quy phạm pháp luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được ban hành ở mức kỷ lục, nhưng thực tế, nhiều nhà khoa học vẫn chưa mạnh dạn dấn thân vào những nghiên cứu có tính đột phá.
Nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ. Ảnh: TTXVN
Nguyên nhân không chỉ nằm ở việc một bộ phận nhà khoa học chưa kịp cập nhật đầy đủ các quy định mới, mà sâu xa hơn là tâm lý “sợ sai”, lo ngại rủi ro pháp lý, tài chính và trách nhiệm cá nhân vẫn còn khá nặng nề. Điều này khiến không ít người lựa chọn các đề tài “an toàn”, có thể hình dung trước kết quả, thay vì theo đuổi những hướng nghiên cứu mới mẻ, nhưng tiềm ẩn rủi ro cao.
Lý giải rõ hơn, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và công nghệ - KH&CN) cho rằng, “vùng an toàn” trong khoa học không phải là nơi không tồn tại rủi ro, mà là không gian cho phép rủi ro khoa học công nghệ được chấp nhận; trong khi rủi ro pháp lý, tài chính và trách nhiệm phải được kiểm soát ở mức tiệm cận bằng không. Nếu thiếu điều kiện này, nhà khoa học sẽ có xu hướng tự thu hẹp phạm vi sáng tạo.
Về giải pháp tháo gỡ “điểm nghẽn tâm lý” này trong năm 2026, ông Hoàng Anh Tú cho biết, hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là Nghị định 267/2025/NĐ-CP, đã quy định khá rõ về quản trị rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, kết quả nghiên cứu không đạt mục tiêu ban đầu vẫn được đánh giá, không phải bồi hoàn kinh phí; các tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN được miễn trách nhiệm dân sự, hình sự, nếu thực hiện đúng quy trình, đúng quy định. Đây được xem là cơ chế “giảm chấn” quan trọng, giúp nhà khoa học yên tâm hơn khi theo đuổi các nghiên cứu có độ rủi ro cao.
Để tạo thêm sự bảo đảm trên thực tế, Bộ KH&CN xác định bốn nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất là minh bạch hóa quy trình thông qua nền tảng quản lý nhiệm vụ KH&CN trên môi trường số, số hóa toàn trình từ đăng ký, xét duyệt đến nghiệm thu. Thứ hai là quản trị rủi ro liên tục, yêu cầu dự báo và xử lý rủi ro ngay từ khâu đề xuất nhiệm vụ, với sự giám sát và hỗ trợ thường xuyên của cơ quan quản lý.
Thứ ba là thí điểm các nhiệm vụ có độ rủi ro cao trong các chương trình công nghệ chiến lược, qua đó giúp nhà khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học hiểu rõ ranh giới được phép thử nghiệm. Cuối cùng là tăng cường truyền thông, tập huấn, giải thích cụ thể các quy định pháp luật, nhằm thay đổi nhận thức của cộng đồng khoa học.
Không thể chờ nhà khoa học tự rời vùng an toàn
Nhìn ở góc độ tổng thể, Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương cho rằng: Việc ban hành chính sách là cần thiết, nhưng chưa đủ nếu chỉ dừng lại ở chờ đợi sự thay đổi từ phía nhà khoa học.
“Chờ nhà khoa học tự bước ra khỏi vùng an toàn rất khó”, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương thẳng thắn nhận định.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ Bùi Hoàng Phương chia sẻ về định hướng phát triển khoa học và công nghệ năm 2026.
Từ tư duy đó, Bộ KH&CN đang chuyển mạnh sang thế chủ động với hàng loạt hành động cụ thể. Bộ đề xuất thí điểm cơ chế sandbox cho các công nghệ mới; chủ động làm việc với địa phương và doanh nghiệp để triển khai thử nghiệm thể chế trong thực tiễn, qua đó vừa tạo không gian thử nghiệm, vừa giảm áp lực pháp lý cho người làm khoa học.
Bộ KH&CN cũng thay đổi cách tiếp cận trong tìm kiếm ý tưởng. Thay vì thụ động chờ hồ sơ đề tài theo quy trình cứng nhắc, Bộ phối hợp với các đơn vị truyền thông, các sân chơi công nghệ để “săn” ý tưởng tiềm năng. Với những ý tưởng có tính đột phá, dù còn ở giai đoạn sơ khai, cơ quan quản lý sẵn sàng tài trợ kinh phí, hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm và thủ tục cho nhà khoa học.
“Chúng tôi sẽ không chờ nhà khoa học gõ cửa. Chúng tôi sẽ cùng họ mở cửa những lĩnh vực mới”, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Bộ KH&CN, tâm lý ưu tiên sự an toàn trong nghiên cứu đang khiến khoa học Việt Nam thiếu vắng những công trình mang tính “game-changer”. Nhiều đề tài được thiết kế sao cho dễ nghiệm thu, dễ quyết toán, nhưng lại ít khả năng tạo ra tác động lớn đối với phát triển kinh tế xã hội.
“Nếu chỉ làm những gì chắc chắn thành công, đó không còn là nghiên cứu khoa học đúng nghĩa. Khoa học là hành trình đi vào vùng chưa biết để tìm ra tri thức mới”, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương cho biết.
Một trong những lý do được Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra khiến khoảng cách giữa thể chế và thực tiễn vẫn tồn tại khoảng cách là do nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa chủ động tìm hiểu các quy định mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vừa được ban hành. Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI nghiên cứu kỹ, thậm chí tiếp cận và phân tích ngay từ giai đoạn dự thảo.
Thực tế cho thấy, qua các hội nghị, hội thảo gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt Nam bày tỏ những kiến nghị đã được cơ quan quản lý tiếp thu, thể chế hóa thành chính sách, nhưng bản thân doanh nghiệp lại không nắm được. “Hoặc như đề xuất về vị trí Tổng công trình sư, đến nay vẫn chưa có người Việt Nam nào đăng ký đảm nhận”, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương chia sẻ.
Thông điệp lãnh đạo Bộ KH&CN gửi đi khá rõ ràng: Năm 2026 là năm tạo ra chuyển biến thực chất trong tư duy và hành động. Khi Nhà nước đồng hành, chia sẻ rủi ro và tạo không gian thử nghiệm, khoa học Việt Nam được kỳ vọng sẽ xuất hiện một thế hệ nhà khoa học mới, những người sẵn sàng dấn thân, chấp nhận thất bại có kiểm soát để đổi lấy những đột phá dài hạn.
Lời giải cho khoa học Việt Nam đã dần hiện hữu: Sự chủ động của cơ quan quản lý, sự dũng cảm của người làm khoa học và một hành lang pháp lý minh bạch, bao dung với rủi ro. Khi “vùng an toàn” không còn là nơi trú ẩn duy nhất, những chân trời mới của đổi mới sáng tạo sẽ được mở ra.