Nghiên cứu khoa học cơ bản phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Phóng viên TTXVN trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ Nguyễn Đình Đức, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X; nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam; Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên Nga. Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN
Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Thường trực Ban Chỉ đạo) về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản, coi đây là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia của Việt Nam trong thế kỷ XXI. Theo đó, nghiên cứu khoa học cơ bản phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tri thức nền tảng không thể đi vay mượn
Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ Nguyễn Đình Đức, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X; nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam; Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên Nga, điểm rất quan trọng trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là đã đặt nghiên cứu khoa học cơ bản đúng vào vị trí chiến lược của nó. Nghiên cứu khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền móng tri thức của quốc gia, là cơ sở để hình thành công nghệ lõi và làm chủ các công nghệ cao, công nghệ chiến lược; là đào tạo nhân lực tinh hoa, nâng cao năng lực dự báo và hoạch định chính sách, cũng như bảo đảm năng lực tự chủ phát triển trong dài hạn.
Giáo sư Nguyễn Đình Đức cho rằng, trong bối cảnh thế giới bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, lượng tử, dữ liệu lớn và an ninh phi truyền thống, quốc gia nào không có nền nghiên cứu cơ bản mạnh thì rất khó đi đến tận cùng của công nghệ lõi. Công nghệ ứng dụng có thể mua, thiết bị có thể nhập khẩu, nhưng tri thức nền tảng, trường phái khoa học, đội ngũ chuyên gia đầu ngành và năng lực sáng tạo nguyên lý mới thì không thể đi vay mượn mãi.
GS.TS. Nguyễn Hoàng Nam, Giám đốc Trung tâm Nano và Năng lượng, Phó trường Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và các đồng nghiệp. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Nhấn mạnh vị trí nền tảng của nghiên cứu cơ bản trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ quốc gia của Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Nam, Giám đốc Trung tâm Nano và Năng lượng, Phó trưởng Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng, nghiên cứu cơ bản được xem là “bệ phóng” cho công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo. Giai đoạn 2026-2035, Việt Nam bắt đầu triển khai Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên (PEBR) đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản xuất sắc, hướng tới hình thành 50 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt khu vực và ít nhất 3 hướng nghiên cứu đạt trình độ quốc tế.
“Nghiên cứu cơ bản là yếu tố cốt lõi để làm chủ các công nghệ tiên phong như AI, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học, năng lượng mới. Nghiên cứu cơ bản cũng chính là mối liên kết giữa các trường đại học và viện nghiên cứu để đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ, tạo nguồn nhân lực cho công nghệ cao, tạo nền tảng về nhân lực chất lượng cao cho các bước đột phá. Trong chương trình này, chính phủ chuyển từ tài trợ nhiệm vụ ngắn hạn sang đầu tư theo chuỗi nghiên cứu 5 - 10 năm, gắn với mục tiêu phát triển công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược quốc gia”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Nam chia sẻ.
Khơi thông “điểm nghẽn” - khuyến khích nhà khoa học dấn thân
Nhận định về một số “điểm nghẽn” được nêu trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, các giáo sư, nhà khoa học cho rằng, đây là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang hướng tới một môi trường nghiên cứu cơ bản cởi mở, chấp nhận rủi ro sáng tạo, tăng cường đầu tư trọng điểm, thu hút chuyên gia quốc tế và Việt kiều tham gia hệ sinh thái nghiên cứu, chuyển đổi mô hình tài trợ khoa học từ kiểm soát chi tiết sang đánh giá theo kết quả và tác động, giúp tăng tốc độ hình thành các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.
Theo Giáo sư Nguyễn Đình Đức, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải vừa tháo gỡ các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho phát triển nhanh và bền vững đất nước là vấn đề được nêu rất đúng, trúng và căn cốt. Tinh thần chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị sáng tạo”, từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” và chấp nhận rủi ro khoa học là rất quan trọng. Chấp nhận rủi ro không có nghĩa là dễ dãi hay buông lỏng quản lý, ngược lại, phải quản lý bằng chuẩn mực khoa học: mục tiêu rõ, tôn trọng tự chủ học thuật, hội đồng đánh giá có chuyên môn, công bố minh bạch, sản phẩm khoa học được thẩm định bằng chất lượng học thuật, tác động đào tạo, đóng góp tri thức và khả năng mở ra hướng nghiên cứu mới.
“Nghiên cứu cơ bản có đặc thù khác với các dự án sản xuất, xây dựng hay mua sắm thông thường. Nó đi vào cái mới, cái chưa biết, có độ bất định cao, có thể thành công lớn nhưng cũng có thể không cho ra kết quả như giả thuyết ban đầu. Nếu áp dụng cơ chế quản lý hành chính cứng nhắc, thanh quyết toán quá nặng về chứng từ và đánh giá khoa học như đánh giá một hợp đồng mua bán thì rất khó khuyến khích nhà khoa học dấn thân vào những vấn đề khó và lớn”, Giáo sư Nguyễn Đình Đức chia sẻ.
Đồng tình, Giáo sư Nguyễn Hoàng Nam cho rằng, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về các “điểm nghẽn” trong nghiên cứu cơ bản đã phản ánh một vấn đề rất thực tế trong hệ thống khoa học Việt Nam hiện nay, đặc biệt là cơ chế tài chính và chính sách kiểm soát, chấp nhận rủi ro. Nhiều đề tài nghiên cứu cơ bản bị giới hạn bởi quy định chi tiêu hành chính khiến nhà khoa học không thể linh hoạt sử dụng kinh phí cho các thí nghiệm hoặc hợp tác quốc tế, làm giảm khả năng cạnh tranh, tốc độ triển khai của các nhóm nghiên cứu, đặc biệt với các lĩnh vực có cạnh tranh quốc tế cao.
“Nghiên cứu cơ bản vốn có tính rủi ro cao, nhưng cơ chế hiện hành lại yêu cầu một sự chắc chắn về kết quả trong sử dụng các nguồn vốn, khiến các nhà khoa học ngại theo đuổi ý tưởng mới. Hệ quả tất yếu là Việt Nam thiếu các công trình đột phá, chỉ tập trung vào hướng “an toàn” thay vì sáng tạo. Ngoài ra, nghiên cứu cơ bản cũng cần một cơ chế tài chính đủ lớn, tập trung và dài hạn bởi nghiên cứu cơ bản cần các điều kiện về cơ sở vật chất tiên tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực về thực nghiệm, không thể chỉ trong 1-2 năm mà tạo ra kết quả ngay. Với các đầu tư hạn chế, không thể duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa được các hệ thống cơ sở vật chất đã được đầu tư gây lãng phí, cũng như không thể đầu tư mới theo kịp được sự phát triển của các khu vực trên thế giới trong nghiên cứu cơ bản”, Giáo sư Nguyễn Hoàng Nam nói.
Tầm nhìn “đô thị đại học - đô thị tri thức”
Với Thủ đô Hà Nội, các giáo sư, nhà khoa học khẳng định, nghiên cứu khoa học cơ bản có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển Hà Nội trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức. Theo đó, Hà Nội không thể chỉ dựa vào dịch vụ, thương mại, bất động sản hay gia công công nghệ mà hạt nhân của kinh tế tri thức phải là tri thức mới, công nghệ mới, nhân lực trình độ cao và hệ sinh thái đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp và chính quyền đô thị. Nghiên cứu cơ bản chính là tầng sâu nhất của hệ sinh thái đó.
“Hà Nội có lợi thế rất đặc biệt, vừa là trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục và khoa học lớn nhất cả nước, vừa là nơi tập trung nhiều đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, trung tâm dữ liệu, cơ quan hoạch định chính sách và doanh nghiệp công nghệ. Nếu biết tổ chức tốt, Hà Nội có thể trở thành một “đô thị đại học - đô thị tri thức”, nơi nghiên cứu cơ bản không nằm tách biệt trong phòng thí nghiệm, mà liên thông với đổi mới sáng tạo, chính sách công, công nghiệp công nghệ cao và giải quyết các bài toán lớn của đô thị”, Giáo sư Nguyễn Đình Đức nhận định.
Ông cho rằng, lợi thế của Hà Nội còn là ở sự xuất hiện của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Luật Thủ đô sửa đổi năm 2026 với rất nhiều điểm mới đợt phá, trong đó có những chính sách rất mạnh dạn đầu tư cho các trường đại học, viện nghiên cứu và nhà khoa học. Những chính sách này cần sớm được triển khai, cụ thể hóa bằng việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc trong những lĩnh vực mũi nhọn như AI, khoa học dữ liệu, vật liệu mới, công nghệ sinh học, y sinh, môi trường, giao thông thông minh, văn hóa số, quy hoạch đô thị và khoa học xã hội phục vụ quản trị đô thị.
“Bên cạnh Luật Thủ đô đã là đột phá, Hà Nội cần một gói chính sách đủ mạnh, đủ khác biệt và đủ dài hạn, trước hết là chính sách nhân tài; tiếp đó là cần đầu tư có trọng tâm cho các trường đại học trọng điểm, viện nghiên cứu trọng điểm và các phòng thí nghiệm liên ngành. Thủ đô cần có cơ chế đặt hàng với những bài toán lớn từ thực tiễn như ô nhiễm không khí, ngập úng, ùn tắc giao thông, nhà ở, chuyển đổi năng lượng, y tế dự phòng, bảo tồn di sản, quản lý dân cư, an toàn dữ liệu và phát triển không gian đô thị...”, Giáo sư Nguyễn Đình Đức chia sẻ.
Trước những thách thức đô thị như ô nhiễm môi trường, giao thông hay già hóa dân số, Giáo sư Nguyễn Hoàng Nam cho rằng, nghiên cứu khoa học cơ bản đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ Hà Nội đối phó với các thách thức đó. Điểm mấu chốt là nghiên cứu cơ bản cung cấp tri thức nền tảng để hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng khoa học, thay vì chỉ xử lý tình huống ngắn hạn. Ví dụ như khoa học môi trường, vật lý và hóa học nghiên cứu về cơ chế phát thải, biến đổi khí quyển, xử lý chất thải, nước thải đô thị, nghiên cứu vật liệu hấp thụ khí thải, năng lượng tái tạo… Hay các dữ liệu quan trắc dài hạn giúp xây dựng mô hình dự báo khí tượng, chất lượng không khí, từ đó đưa ra chính sách kiểm soát phương tiện, quy hoạch công nghiệp.
Các mô hình toán học, AI, dữ liệu lớn… được ứng dụng sẽ giúp Hà Nội giảm các áp lực về giao thông đô thị, tối ưu hóa mạng lưới giao thông, điều khiển tín hiệu giao thông thông minh, Sinh học và y học cơ bản nghiên cứu về cơ chế lão hóa, bệnh mãn tính, bệnh đô thị, trong khi các nghiên cứu AI và các nghiên cứu về các thiết bị theo dõi, chăm sóc sức khỏe tại nhà hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên là nền tảng cho các thế hệ robot trợ lý chăm sóc người già, người bệnh tại nhà.
“Nghiên cứu cơ bản cũng cấp bằng chứng khoa học giúp chính quyền Hà Nội xây dựng chính sách dựa trên dữ liệu và mô hình khoa học, chỉ ra các xu hướng về dài hạn, tạo cầu nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học và chính quyền thành phố. Tóm lại, nghiên cứu khoa học cơ bản có thể được coi là một bộ não chiến lược để giúp Hà Nội thiết kế chính sách đô thị thông minh, bền vững và nhân văn, từ đó giải quyết tận gốc các thách thức về môi trường, giao thông và dân số”, Giáo sư Nguyễn Hoàng Nam chia sẻ.