Trong bối cảnh nợ xấu toàn hệ thống chịu áp lực gia tăng đáng kể sau giai đoạn COVID-19. Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) không chỉ có nhiệm vụ xử lý nợ xấu đơn thuần, mà còn là điểm tựa niềm tin, bệ đỡ giúp hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) vận hành ổn định, minh bạch.
TS. Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA).
TS. Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã trao đổi với báo giới xung quanh vấn đề này.
Thưa ông, tại Nghị quyết 79-NQ/TW, Bộ Chính trị xác định VAMC đóng vai trò then chốt trong việc xử lý nợ xấu, nâng cao năng lực tài chính và giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng; đồng thời tập trung thúc đẩy thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp, minh bạch, bền vững và tăng cường liên kết, chia sẻ thông tin. Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với vai trò và vị thế của VAMC?
Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước đã nêu rõ: Các doanh nghiệp đều cần tái cơ cấu để phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2 con số; các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực sản xuất, năng suất lao động và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm tạo hiệu quả cao nhất.
VAMC và Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC) là 2 trong số những đơn vị cần thực hiện nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt tái cơ cấu về tài chính, xử lý nợ xấu của khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường. Điều này cho thấy Đảng và Chính phủ đã nhìn nhận đúng vai trò của 2 đơn vị này.
Nếu như DATC cần đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, đảm bảo hiệu quả, VAMC cần thực hiện cuộc Cách mạng về tư duy để biến từ một đơn vị "mua nợ để giữ" sang một thực thể xử lý nợ thực chất và dẫn dắt thị trường. Do đó, VAMC cần phải xây dựng được Đề án tổng thể, có trách nhiệm theo hướng:
Thứ nhất, VAMC không thể chỉ làm nhiệm vụ mua nợ đơn thuần rồi ủy quyền ngược lại cho các TCTD, mà phải tổ chức phân tích đánh giá và thu hồi nợ xấu (kể cả nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt), theo đó tiếp tục tái cơ cấu và vận hành Sàn giao dịch nợ xấu (đã có) theo đúng nghĩa và coi đây là ưu tiên hàng đầu để tạo sự minh bạch. VAMC cần phát triển mạnh các mảng môi giới, tư vấn, đấu giá, định giá tài sản và đặc biệt thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam.
Thứ hai, mọi Đề án đều sẽ chỉ nằm trên giấy nếu thiếu nguồn lực thực thi. Do vậy, cần tiếp tục tăng vốn điều lệ tối thiểu 15.000 - 20.000 tỷ đồng để VAMC đủ nội lực mua nợ xấu theo giá thị trường, tạo ra vòng quay vốn nhanh thay vì chỉ mua bằng trái phiếu đặc biệt; cần đẩy mạnh và kiên quyết tái cơ cấu về nhân lực và phương thức quản trị; kiện toàn bộ máy lãnh đạo từ Hội đồng thành viên, đến Ban điều hành, xây dựng tiêu chí rõ ràng. Tất cả các trường hợp lợi dụng, vi phạm pháp luật cần phải được xử lý nghiêm để tránh lợi dụng, trục lợi và xây dựng đội ngũ chuyên gia có kỹ năng về tái cơ cấu doanh nghiệp, kiến thức pháp luật… với nguyên tắc "Ai làm được thì giao việc, ai không đáp ứng được thì thay thế".
Thứ ba, thiết lập hành lang pháp lý và quyền năng đặc biệt cho VAMC. Để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới, cần tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho mua bán nợ của VAMC. Muốn vậy phải kiến nghị Chính phủ xem xét sửa đổi Nghị định 53/2013/NĐ-CP theo hướng trao cho VAMC quyền năng đặc biệt trong việc thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm, vượt ra ngoài các quan hệ dân sự cho vay thông thường và càng không thể coi VAMC như các công ty AMC (Công ty Quản lý nợ và Khai thác Tài sản) của tổ chức tài chính cũng như các TCTD. Bởi VAMC không phải là TCTD, mà là công ty có chức năng, nhiệm vụ chuyên biệt xử lý nợ xấu.
Thứ tư, cần tập trung nguồn lực đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc hỗ trợ phân tích dữ liệu nợ xấu và tài sản bảo đảm của nợ xấu đã mua. Đồng thời, chủ động khai thác, kết nối dữ liệu nợ xấu từ nhóm 3 trở lên từ các TCTD, cũng như từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), để tổ chức phân tích đánh giá và hỗ trợ ngược lại cho các TCTD trong xử lý nợ xấu cũng như tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.
Để thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW, VAMC cần hội đủ 4 yếu tố: Nhân sự đủ năng lực - Tài chính đủ mạnh - Hành lang pháp lý đủ rộng - Chuyển đổi số mạnh mẽ.
Nếu không thay đổi mô hình tổ chức theo hướng chuyên nghiệp và không được trao đủ quyền hạn, VAMC sẽ khó để thực hiện sứ mệnh làm sạch bảng cân đối kế toán và nâng cao năng lực tài chính cho hệ thống ngân hàng như mục tiêu đã đề ra. VAMC phải là người đồng hành, là "cánh tay nối dài" của Nhà nước trong việc giữ gìn sự an toàn của hệ thống tài chính Quốc gia.
VAMC sẽ chuyển mình thế nào để không chỉ là một đơn vị xử lý nợ xấu mang tính giai đoạn, mà trở thành một Trung tâm tái cấu trúc tài sản chuyên nghiệp, có khả năng định giá và tư vấn tài chính cho cả hệ thống, thưa ông?
VAMC sẽ trở thành một thực thể xử lý nợ chuyên nghiệp, độc lập và là người đồng hành thực thụ của các TCTD. Để đạt được tầm vóc đó, cần phân định rõ vai trò và xác lập "quyền năng đặc biệt" cho VAMC. Bởi thực tế cho thấy, đang tồn tại sự chưa rõ ràng khi coi VAMC như một TCTD thông thường, thậm chí quyền hạn cũng chẳng khác gì các công ty AMC do TCTD thành lập nên cần phải có cách nhìn nhận một cách khách quan.
VAMC không phải đơn vị cho vay, nên không thể bị ràng buộc bởi các quy trình dân sự giữa ngân hàng và khách hàng, do đó cần có cần cơ chế tố tụng rút gọn: Không thể để một đơn kiện với những lý do không rõ ràng hoặc tạo cớ nhằm trốn trách nhiệm trả nợ hoặc bàn giao tài sản làm đình trệ toàn bộ quá trình xử lý nợ, xử lý tài sản. Nếu không quyết liệt, nợ xấu, đặc biệt là bất động sản, sẽ bị mắc kẹt, gây lãng phí nguồn lực Quốc gia.
Nhìn vào mô hình các công ty quản lý tài sản Quốc gia thành công trên thế giới (như tại Trung Quốc hay Hàn Quốc), họ được trao quyền lực rất lớn nhưng đi kèm với trách nhiệm và kỷ luật nghiêm khắc.
Do đó, trong tương lai VAMC phải là đơn vị dẫn dắt, tạo ra sự minh bạch cho thị trường mua bán nợ, phải là nơi hội tụ những chuyên gia định giá, tư vấn tài chính và tái cấu trúc doanh nghiệp tinh nhuệ nhất và có một sàn giao dịch nợ xấu chuyên nghiệp, nơi không chỉ có các định chế tài chính trong nước, mà cả các nhà đầu tư quốc tế cũng có thể tham gia mua bán một cách tin cậy.
Thưa ông, sau hơn một thập kỷ hoạt động, ông đánh giá thế nào về vai trò của VAMC trong việc xử lý nợ xấu và góp phần “làm sạch” bảng cân đối kế toán của các tổ chức tín dụng?
VAMC ra đời trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và Việt Nam nói riêng gặp nhiều khó khăn, hệ thống ngân hàng đang phải đối mặt áp lực nợ xấu tăng cao, tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng quy định chung theo thông lệ quốc tế, an toàn hệ thống bị đe dọa.
Để đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn Chính phủ đã ban hành Nghị định 53/2013/NĐ-CP về việc thành lập, tổ chức, hoạt động VAMC và giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thành lập với sứ mệnh là vừa xử lý nợ xấu của các TCTD để đảm bảo an toàn hệ thống, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng vừa tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Xuyên suốt hành trình hơn 10 năm qua, vai trò của VAMC được thể hiện rõ nét qua việc “làm sạch” bảng cân đối kế toán cho các TCTD; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp đang có nợ xấu nhưng có khả năng phục hồi thông qua việc cho vay bổ sung để từng bước trả nợ cũ, cũng như nợ cho vay mới.
Trong những năm đầu, VAMC tập trung vào cơ chế mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt và được trích lập dự phòng rủi ro trong thời hạn 5 năm; đồng thời có thể sử dụng trái phiếu đặc biệt vay tái cấp vốn từ NHNN. Đây có thể coi là "liều thuốc" hữu hiệu vừa giúp các TCTD phòng ngừa rủi ro thanh khoản và có thêm nguồn lực để cho vay hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua ảnh hưởng suy thoái toàn cầu.
Về mặt kỹ thuật, VAMC giúp đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD xuống dưới mức 3% theo đúng thông lệ quốc tế. Điều này không chỉ giúp các TCTD duy trì được hệ số tín nhiệm trong và ngoài nước, mà còn đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống. Thực tế cho thấy, sau 5 năm đầu triển khai, khoảng 90% các TCTD đã tất toán trái phiếu đặc biệt, tự tái cơ cấu và xử lý nợ xấu.
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định song hoạt động của VAMC cũng tồn tại những hạn chế khách quan, đó là: với vốn điều lệ ban đầu chỉ 500 tỷ đồng và sau này tăng lên 5.000 tỷ đồng, so với quy mô nợ xấu hàng trăm nghìn tỷ đồng của hệ thống TCTD, nguồn lực tài chính này còn rất hạn hẹp để có thể “mua đứt bán đoạn” theo giá thị trường một cách mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, với đội ngũ nhân sự hạn chế so với khối lượng nợ xấu cần xử lý, vì vậy, sau khi mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt hầu như VAMC ủy quyền toàn bộ cho chính các TCTD thực hiện việc theo dõi, đôn đốc thu hồi nợ chứ chưa tham gia trực tiếp vào quá trình xử lý nợ xấu, chưa thể hiện rõ vai trò dẫn dắt thị trường trong việc xử lý nợ xấu…
Vậy theo ông, hoạt động của VAMC có cần hướng đến mục tiêu lợi nhuận không hay chỉ nên tập trung vào xử lý nợ xấu và ổn định hệ thống tài chính ngân hàng?
Bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động theo Luật Doanh nghiệp hay Luật Các TCTD đều phải đặt ra yêu cầu hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên với VAMC, đây là doanh nghiệp đặc thù nên tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Chính phủ đã xác định rõ VAMC là đơn vị hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Điều này có nghĩa là sứ mệnh cao nhất của VAMC không phải là tối ưu hóa dòng tiền cho ngân sách mà là khơi thông thật nhanh điểm nghẽn nợ xấu để bảo vệ sự an toàn của hệ thống tài chính.
Do vậy, nếu đặt nặng chỉ tiêu lợi nhuận, VAMC sẽ dễ rơi vào trạng thái "găm hàng" chờ giá cao mới bán, vô hình trung làm chậm tiến độ xử lý nợ và đi ngược lại mục tiêu ban đầu.
Mặt khác, cần phân biệt rõ giữa "không vì lợi nhuận" và "hoạt động không hiệu quả". Là doanh nghiệp vận hành theo Luật Doanh nghiệp, VAMC bắt buộc phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn và có lãi. Lợi nhuận ở đây nên được hiểu là kết quả tất yếu của một quy trình vận hành khoa học, chứ không phải là đích đến hàng đầu. Nếu giao chỉ tiêu lợi nhuận quá nặng nề sẽ tạo ra áp lực tâm lý cho đội ngũ điều hành, dẫn đến tình trạng ưu tiên những khoản nợ dễ làm, có lãi mà bỏ quên những khoản nợ khó nhưng cần xử lý gấp để ổn định hệ thống.
VAMC cần tiếp tục đẩy nhanh tốc độ vòng quay vốn để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu. Với 5.000 tỷ đồng vốn điều lệ, nếu xoay vòng tốt, VAMC có thể xử lý khối lượng nợ lên tới 10.000 - 15.000 tỷ đồng theo giá thị trường. Mục tiêu cốt lõi là xử lý, thu hồi vốn nhanh để tiếp tục tái đầu tư. Đây mới chính là thước đo thành công thực sự của VAMC.
Xin trân trọng cảm ơn ông!