08:20 24/08/2026

Nghị quyết 68-NQ/TW: Đưa dòng vốn tín dụng đến đúng doanh nghiệp, đúng nhu cầu

Tín dụng đang được đẩy mạnh về khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) với kỳ vọng hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán đặt ra không chỉ là giảm lãi suất mà còn là đưa vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng nhu cầu và đúng chu kỳ kinh doanh.

Chú thích ảnh
Hoạt động tại Công ty CP thiết bị và giải pháp cơ khí AUTOMECH (Khu Công nghiệp Đình Trám, Bắc Ninh). Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN

Ngân hàng tăng tốc hỗ trợ doanh nghiệp SME

Theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, trong tháng 8, các ngân hàng thương mại phải xây dựng và công bố chương trình tín dụng hướng vào các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp SME, với lãi suất cho vay bằng VND thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.

Ngay sau đó, nhiều ngân hàng công bố các gói tín dụng quy mô lớn dành cho SME, với mức giảm lãi suất 1-2%/năm.

Ở nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, Vietcombank, VietinBank và BIDV triển khai các gói tín dụng 50.000 tỷ đồng, với mức giảm lãi suất 1%/năm. Agribank dành 70.000 tỷ đồng cho chương trình tín dụng ưu đãi hỗ trợ SME vay vốn sản xuất, kinh doanh.

Trong khối ngân hàng thương mại cổ phần, Nam A Bank dành 25.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn khoảng 1-1,8%/năm so với biểu lãi suất niêm yết. SHB triển khai gói 45.000 tỷ đồng, giảm lãi suất đến 2%/năm…

Việc nhiều ngân hàng đồng loạt dành nguồn vốn và giảm lãi suất cho SME cho thấy tín dụng đang được định hướng rõ hơn vào khu vực doanh nghiệp được xem là động lực của tăng trưởng. Với doanh nghiệp quy mô nhỏ, chi phí vốn tác động trực tiếp đến dòng tiền và hiệu quả kinh doanh. Nếu được tiếp cận thực chất, mức giảm 1-2%/năm có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính, bổ sung vốn lưu động và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2, việc các ngân hàng triển khai các gói tín dụng với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm sẽ trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí vay vốn, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là một trong những kênh để tín dụng ngân hàng hỗ trợ tốt hơn cho mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, với SME, bài toán vốn không chỉ nằm ở lãi suất. Khả năng tiếp cận tín dụng còn phụ thuộc vào dòng tiền, tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính và phương án kinh doanh. Vì vậy, bên cạnh các gói vay ưu đãi, một số ngân hàng đang mở rộng cách thức hỗ trợ theo chuỗi, gắn tín dụng với hoạt động sản xuất, đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.

Mới đây, Ngân hàng Agribank đã ký thỏa thuận hợp tác với Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Co.op); trong đó, cam kết đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh, phát triển chuỗi bán lẻ, logistics và đầu tư cơ sở hạ tầng. Ngân hàng cũng hướng tới hỗ trợ các nhà cung ứng, hộ nông dân và đối tác thành viên trong chuỗi của Saigon Co.op.

Theo ông Tô Huy Vũ, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Agribank, việc kết nối ngân hàng với doanh nghiệp bán lẻ có thể hình thành chuỗi liên kết từ vốn, sản xuất đến phân phối. Agribank sẽ phát huy mạng lưới và hệ sinh thái dịch vụ tài chính để phục vụ không chỉ Saigon Co.op mà cả các nhà cung ứng, hộ nông dân và đối tác trong chuỗi.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) mới đây cũng trở thành đối tác đồng hành của Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR) trong hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển đổi sản xuất, chuyển đổi xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. 

Thông qua hợp tác này, ACB sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp, đặc biệt là SME, thông qua các giải pháp tài chính và kết nối nguồn lực phục vụ quá trình chuyển đổi và phát triển bền vững. Đồng thời, với tệp khách hàng doanh nghiệp rộng lớn của mình, ACB sẽ chủ động giới thiệu và kết nối các doanh nghiệp tham gia hệ sinh thái, giúp họ tiếp cận thuận lợi hơn các nguồn lực về công nghệ, dữ liệu, thị trường, tư vấn và các chương trình hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Dòng vốn cần đến đúng địa chỉ

Dù định hướng tín dụng đang chuyển mạnh hơn về khu vực SME, khả năng tiếp cận vốn vẫn là bài toán đối với doanh nghiệp, nhất là khi mặt bằng chi phí đầu vào và chi phí vốn còn ở mức cao.

Theo ông Phạm Văn Triêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hồ Chí Minh (HCM-SME), tín dụng vẫn là bài toán khó đối với khu vực SME. Trong bối cảnh lãi suất huy động còn ở mức cao, khả năng giảm sâu lãi suất cho vay của ngân hàng cũng bị giới hạn. Ngân hàng phải bảo đảm hiệu quả hoạt động nên khó có thể huy động với chi phí cao nhưng cho vay ở mức rất thấp.

Trong khi đó, chi phí sản xuất, kinh doanh tiếp tục tăng, từ nhân công, máy móc đến nguyên vật liệu. Với doanh nghiệp quy mô nhỏ và nguồn vốn hạn chế, áp lực chi phí làm thu hẹp dòng tiền, qua đó ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ thêm vốn vay.

Theo đại diện HCM-SME, bên cạnh chính sách tín dụng cần có thêm các biện pháp hỗ trợ trực tiếp để giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp. Hiệp hội đánh giá đề xuất miễn thuế đối với doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng là phù hợp, bởi có thể giúp doanh nghiệp giữ lại thêm nguồn lực để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ở góc độ doanh nghiệp xuất khẩu, ông Bill Nguyễn, Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH Cainver Việt Nam, cho rằng không phải SME nào cũng có nhu cầu vốn giống nhau. Doanh nghiệp xuất khẩu có thể chủ động một phần vốn nhờ tiền đặt cọc, ứng trước hoặc L/C từ khách hàng, nhưng khoản vay ngân hàng phải phù hợp với chu kỳ vốn.

Theo ông Bill Nguyễn, có những đơn hàng kéo dài khoảng 6 tháng từ lúc mua nguyên liệu, sản xuất đến khi thu tiền, trong khi thời hạn thanh toán có thể lên tới 120 ngày. Nếu chỉ được hưởng lãi suất ưu đãi trong thời gian ngắn rồi chuyển sang lãi suất thả nổi, hiệu quả hỗ trợ sẽ hạn chế. Do đó, chính sách tín dụng cần tính đến cả thời gian ưu đãi và chu kỳ kinh doanh thực tế của doanh nghiệp.

Thực tế từ doanh nghiệp cũng cho thấy, hiệu quả của tín dụng không chỉ phụ thuộc vào mức lãi suất mà còn ở việc nguồn vốn được phân bổ vào đâu và có phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế hay không.

Theo ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HIDS), lãi suất thời gian qua cơ bản chững lại nhưng đang có xu hướng tăng, trong bối cảnh nền kinh tế và doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn để mở rộng sản xuất. Khi nhu cầu vốn tăng, áp lực lên mặt bằng lãi suất cũng gia tăng.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở câu hỏi dòng vốn đang đi đâu, nhất là khi tỷ lệ tín dụng trên GDP đã ở mức cao. Thực tế cho thấy, bên cạnh nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, nhiều công trình, dự án quy mô rất lớn đang được triển khai và thu hút lượng vốn đáng kể. Điều này đặt ra bài toán về phân bổ nguồn vốn, khi các dự án quy mô lớn có thể thu hút lượng vốn rất lớn trong khi khu vực sản xuất thực vẫn đang thiếu vốn. 

"Sản xuất cần được ưu tiên trong định hướng dòng vốn, kể cả hoạt động gia công, lắp ráp tại Việt Nam. Bởi đây là khu vực tạo việc làm, hình thành năng lực sản xuất và tạo nền tảng cho quá trình tích lũy của nền kinh tế. Do đó, việc giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ cũng cần đi kèm với lựa chọn ưu tiên. Nguồn vốn nên được hướng nhiều hơn vào các hoạt động hình thành và mở rộng năng lực sản xuất, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững", ông Phạm Bình An cho biết.

Các chuyên gia cho rằng, bên cạnh sản xuất, hạ tầng cũng là một lĩnh vực cần ưu tiên, nhưng trọng tâm không chỉ nằm ở những dự án quy mô lớn mà cần tập trung vào hạ tầng trực tiếp giúp doanh nghiệp giảm chi phí. Đó là đường bộ, cảng biển và hệ thống logistics, nhằm bảo đảm hàng hóa được lưu thông thông suốt. Khi chi phí logistics giảm, hàng hóa Việt Nam sẽ có sức cạnh tranh tốt hơn, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và thúc đẩy sản xuất.

Bài toán tín dụng cho SME vì vậy không chỉ nằm ở việc giảm thêm bao nhiêu phần trăm lãi suất hay dành bao nhiêu nghìn tỷ đồng. Quan trọng hơn, nguồn vốn cần đến đúng doanh nghiệp, phù hợp với chu kỳ sản xuất và được ưu tiên cho những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Hứa Chung (TTXVN)