Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu lớn cho thu hút FDI giai đoạn 2026 - 2030. Kết quả 6 tháng đầu năm cho thấy, Việt Nam có nhiều thuận lợi, song để đi đường dài cần nhận diện rõ lợi thế, tháo điểm nghẽn và nâng chất liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.
Hoạt động sản xuất tại nhà máy trong khu công nghiệp ở Bắc Ninh, lĩnh vực tiếp tục thu hút nhiều dự án FDI. Ảnh minh họa: Đồng Thúy/TTXVN
Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam thu hút vốn FDI đạt khoảng 200 - 300 tỷ USD, tương đương 40 - 50 tỷ USD/năm; vốn FDI thực hiện đạt khoảng 150 - 200 tỷ USD, tương đương 30 - 40 tỷ USD/năm.
Số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính cho thấy, đến nay Việt Nam đã thu hút khoảng 550 tỷ USD vốn FDI từ 46.000 dự án. Khu vực FDI tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Riêng 6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức vốn FDI thực hiện cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm qua.
Từ kết quả này, có thể thấy mục tiêu thu hút khoảng 40 - 50 tỷ USD vốn FDI trong năm 2026 là có cơ sở, nếu tiến độ thu hút vốn tiếp tục được duy trì trong những tháng cuối năm. Đặc biệt, Việt Nam vẫn được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là điểm đến tiềm năng nhờ vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lao động dồi dào và môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện.
Bên cạnh cơ hội, mục tiêu tại Nghị quyết 10-NQ/TW cũng đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn cho thu hút FDI trong giai đoạn mới. Cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến khó lường, tác động đến tăng trưởng, lạm phát và dòng vốn toàn cầu.
Theo Nghị quyết 10-NQ/TW, giai đoạn 2026 - 2030, vốn FDI giải ngân cần đạt từ 30 - 40 tỷ USD/năm. Đồng thời, 75% vốn đầu tư nước ngoài phải đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại. Số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung. Trong đó, có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.
Không chỉ hướng tới các tập đoàn lớn, Việt Nam còn đặt mục tiêu thu hút doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Một mục tiêu quan trọng khác là nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45 - 50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có khoảng 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.
Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được định hướng phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân; đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Trước hết là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, gồm vật liệu và linh kiện then chốt, vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu.
Theo ông Takuya Sahashi, dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, song nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận do thủ tục phức tạp hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế. Từ kinh nghiệm thực tiễn, ông nhấn mạnh cần có sự hỗ trợ trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao, thay vì chỉ chú trọng số lượng.
Việt Nam cần nhận diện các doanh nghiệp nội địa có khả năng phát triển và dành cho họ các chính sách hỗ trợ phù hợp. Cùng với đó, cần tăng cường kết nối doanh nghiệp, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin; hoàn thiện cơ chế nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực.
Việc mở rộng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, tổ chức triển lãm, phát triển các nền tảng kết nối doanh nghiệp thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp sẽ giúp thúc đẩy liên kết chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, tăng cường đào tạo nghề, thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, nâng cao kỹ năng thực hành cũng là điều kiện cần thiết để nâng năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ chuyển giao.
Ở góc nhìn thị trường vốn, ông Dominic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital cho rằng, Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ nhấn mạnh thu hút đầu tư theo quy mô vốn, mà còn chú trọng chất lượng dòng vốn. Nghị quyết cũng khẳng định rõ quan điểm thu hút đầu tư nước ngoài không được đánh đổi môi trường, tài nguyên thiên nhiên hay hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam.
Theo ông Dominic Scriven, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng nhanh, một trong những thách thức lớn không chỉ là quy mô nguồn vốn, mà còn là chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vì vậy, Chính phủ có thể nghiên cứu cơ chế khuyến khích doanh nghiệp FDI giữ lại lợi nhuận tại Việt Nam thay vì chuyển toàn bộ ra nước ngoài.
Một giải pháp có thể xem xét là xây dựng cơ chế lãi suất phù hợp đối với các khoản tiền gửi bằng USD của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều này có thể góp phần bổ sung nguồn vốn ngoại tệ ổn định cho nền kinh tế.
Trong khi đó, ông Micheal Kokalari, Chuyên gia kinh tế, Quỹ đầu tư VinaCapital cho rằng, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới, Việt Nam cần kiên trì theo đuổi các chương trình phát triển hạ tầng quy mô lớn. Đây là nền tảng quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và những hình thức huy động vốn khác. Điều này sẽ giúp mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn, từ đó thu hút thêm nhiều nhà đầu tư quốc tế.
Có thể thấy, kết quả thu hút FDI 6 tháng đầu năm là tín hiệu tích cực để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 10-NQ/TW. Tuy nhiên, để duy trì lợi thế và nâng chất dòng vốn, Việt Nam cần không chỉ cải thiện môi trường đầu tư, mà còn phải phát triển hạ tầng, nâng năng lực doanh nghiệp trong nước, mở rộng thị trường vốn và thúc đẩy liên kết thực chất giữa khu vực FDI với nền kinh tế nội địa.