08:13 23/08/2026

Nghị quyết 10 nâng chất dòng vốn FDI - Bài cuối: Để doanh nghiệp Việt lớn lên cùng FDI

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu thu hút FDI không chỉ để bổ sung vốn, mở rộng sản xuất và xuất khẩu mà phải nâng năng lực công nghệ, quản trị của nền kinh tế. Muốn dòng vốn ngoại tạo sức lan tỏa, chính sách ưu đãi phải gắn với kết quả đầu ra, còn doanh nghiệp Việt Nam cần được hỗ trợ nâng cấp để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chú thích ảnh
TP Hồ Chí Minh thu hút đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao.

Đánh giá dự án bằng kết quả đầu ra

Sau gần 40 năm mở cửa, khu vực FDI đã góp phần hình thành nhiều ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm và đưa Việt Nam tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ gia công, lắp ráp trong một số ngành còn cao; nhiều doanh nghiệp FDI vẫn nhập khẩu phần lớn nguyên liệu, linh kiện và vận hành tương đối biệt lập với khu vực kinh tế trong nước.

Khoảng cách về vốn, công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn kỹ thuật khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam khó trở thành nhà cung ứng trực tiếp. Đơn hàng từ các tập đoàn FDI thường đòi hỏi chất lượng ổn định, sản lượng lớn, thời gian giao hàng nghiêm ngặt và khả năng truy xuất toàn bộ quá trình sản xuất. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và vừa, hạn chế nguồn lực đầu tư máy móc, phòng kiểm định, chứng nhận và hệ thống quản trị.

Đại diện Tập đoàn Trường Hải (THACO) cho biết, nhiều doanh nghiệp FDI vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và vật tư do nhà cung ứng trong nước chưa đáp ứng đồng thời yêu cầu về số lượng, chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, chính sách thu hút FDI cần đi cùng việc hình thành cụm liên kết ngành, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng năng lực sản xuất và giảm chi phí logistics.

Chú thích ảnh
Dây chuyền sản xuất “thông minh” của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Worldon Việt Nam trực thuộc Tập đoàn Shenzhou (Trung Quốc) tại Khu công nghiệp Đông Nam, TP Hồ Chí Minh.

Theo ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu, Ngân hàng HSBC Việt Nam, giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi Việt Nam thu hút thêm vốn mà còn phải tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn từ dòng vốn đó. Trọng tâm cần chuyển từ thu hút vốn sang thu hút năng lực, bao gồm công nghệ, hoạt động nghiên cứu - phát triển, kinh nghiệm quản trị và đào tạo nhân lực.

Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể đối với từng dự án FDI. Bên cạnh vốn đăng ký và vốn thực hiện, cơ quan quản lý cần theo dõi mức chi cho nghiên cứu - phát triển, công nghệ được chuyển giao, số lao động kỹ thuật được đào tạo, lượng hàng hóa mua từ doanh nghiệp trong nước, số nhà cung ứng Việt Nam và kết quả giảm phát thải.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 thu hút khoảng 200 - 300 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150 - 200 tỷ USD. Đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực phấn đấu đạt 45 - 50%; khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.

Các mục tiêu này cho thấy, hiệu quả của FDI không còn được đánh giá chủ yếu qua quy mô vốn, số lượng dự án hay kim ngạch xuất khẩu. Kết quả quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam có tiếp nhận được công nghệ, tham gia vào chuỗi cung ứng và nâng cấp năng lực sản xuất hay không.

Theo bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, điểm đột phá của Nghị quyết số 10-NQ/TW là gắn ưu đãi với đóng góp thực tế, tránh tình trạng khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước tồn tại như “hai nền kinh tế” tách biệt.

Cơ quan quản lý đang nghiên cứu cơ chế khuyến khích doanh nghiệp FDI trực tiếp lựa chọn và đào tạo nhà cung ứng Việt Nam theo đúng yêu cầu của chuỗi sản xuất. Một phương án được nêu là Nhà nước có thể hỗ trợ một phần chi phí, chẳng hạn khoảng 30 - 50%, cho phép tính vào cơ chế khấu trừ phù hợp hoặc áp dụng hình thức hỗ trợ khác. Đây mới là định hướng đang được nghiên cứu, chưa phải mức hỗ trợ được áp dụng chính thức.

Cách tiếp cận này khắc phục hạn chế của mô hình đào tạo dàn trải. Trước đây, doanh nghiệp Việt Nam có thể được tham gia các chương trình nâng cao năng lực nhưng sau đào tạo vẫn chưa đáp ứng đúng tiêu chuẩn của bên mua. Khi doanh nghiệp FDI trực tiếp lựa chọn, đào tạo, đánh giá và giao đơn hàng, hoạt động hỗ trợ sẽ gắn với nhu cầu thực tế của chuỗi sản xuất.

Ưu đãi cũng cần được thực hiện theo tiến độ và kết quả cam kết. Doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu về nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tỷ lệ mua hàng trong nước hoặc giảm phát thải sẽ được hưởng mức hỗ trợ tương ứng. Ngược lại, trường hợp chậm triển khai hoặc không thực hiện đầy đủ cam kết phải bị điều chỉnh ưu đãi.

Nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp Việt 

Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, để Nghị quyết số 10-NQ/TW đi vào đời sống, chính sách FDI cần được đặt trong mối liên hệ với phát triển doanh nghiệp trong nước, công nghiệp hỗ trợ, khoa học - công nghệ và đào tạo nhân lực.

Nếu chỉ ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng doanh nghiệp Việt Nam không được nâng cao năng lực, khu vực FDI vẫn có thể tiếp tục nhập khẩu phần lớn nguyên liệu và linh kiện. Khi đó, kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế không cao. Hỗ trợ doanh nghiệp nội địa vì vậy phải trở thành một bộ phận của chính sách thu hút FDI, thay vì được triển khai như một chương trình riêng biệt.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở mặt bằng sản xuất, vốn trung và dài hạn, hệ thống phòng cháy, chữa cháy, xử lý môi trường, kiểm định và chứng nhận chất lượng. Nhiều doanh nghiệp có khả năng gia công sản phẩm nhưng chưa đủ nguồn lực đầu tư đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của tập đoàn quốc tế.

Chương trình phát triển nhà cung ứng vì vậy cần được xây dựng từ nhu cầu mua hàng cụ thể của doanh nghiệp FDI. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý xác định doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng, hỗ trợ nâng cấp công nghệ, quản trị, chất lượng và tài chính. Doanh nghiệp FDI tham gia đào tạo, đánh giá và đặt hàng; Nhà nước hỗ trợ mặt bằng, tín dụng, kiểm định và chứng nhận; còn doanh nghiệp trong nước phải chủ động đầu tư máy móc, nhân lực và hệ thống quản trị.

Liên kết chỉ bền vững khi được hình thành từ đơn hàng thực tế. Doanh nghiệp Việt Nam có thể bắt đầu bằng những sản phẩm, dịch vụ hoặc đơn hàng nhỏ, sau đó nâng dần tỷ lệ cung ứng khi đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn. Quá trình này giúp doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm, cải thiện năng suất và từng bước trở thành nhà cung ứng cấp cao hơn.

Chú thích ảnh
Việt Nam đang xây dựng các khu công nghiệp - khu chế xuất xanh để thu hút FDI chất lượng cao.

Nguồn nhân lực kỹ thuật cao là điều kiện quan trọng để tiếp nhận công nghệ hiện đại. Cơ sở đào tạo cần nhận đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp trong các lĩnh vực bán dẫn, điện tử, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Chương trình đào tạo phải gắn với thiết bị, quy trình và tiêu chuẩn đang được sử dụng tại nhà máy, thay vì chỉ tập trung vào kiến thức lý thuyết.

Chính sách thu hút chuyên gia nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp FDI cũng cần đi cùng yêu cầu đào tạo đội ngũ kế cận trong nước. Hiệu quả chuyển giao không chỉ được tính bằng số chuyên gia hoặc chương trình đào tạo mà phải thể hiện qua số kỹ sư, quản lý và nhân sự nghiên cứu người Việt Nam có thể đảm nhận những vị trí quan trọng.

Bên cạnh năng lực của doanh nghiệp, công tác xúc tiến đầu tư cần chuyển từ cạnh tranh riêng lẻ giữa các địa phương sang điều phối theo vùng, ngành và cụm liên kết. Một bản đồ thu hút đầu tư thống nhất có thể xác định địa bàn phù hợp với các dự án bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo hoặc công nghiệp hỗ trợ.

Những dự án chưa phù hợp với các cực tăng trưởng lớn có thể được điều phối tới địa bàn phụ cận, qua đó hình thành cụm sản xuất và chuỗi cung ứng liên vùng. Cách làm này hạn chế tình trạng nhiều địa phương cùng mời gọi một loại dự án và cạnh tranh bằng ưu đãi. Thay vào đó, mỗi địa phương xác định rõ lợi thế về quỹ đất, lao động, hạ tầng, logistics và khả năng liên kết với trung tâm nghiên cứu, đào tạo.

Hưng Yên là một trong những địa phương đang hướng tới phát triển khu, cụm công nghiệp xanh - sinh thái, tăng kết nối vùng và xây dựng “luồng xanh” hành chính để tiếp cận nhà đầu tư chiến lược. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hòa, địa phương cần chuyển từ tư duy cấp phép sang đồng hành trong toàn bộ vòng đời dự án.

Mỗi dự án chiến lược phải có đầu mối theo dõi từ giai đoạn khảo sát, chuẩn bị đất, thẩm định đến xây dựng và vận hành. Dữ liệu về quy hoạch, hạ tầng, nhân lực, năng lượng và môi trường cần được công khai, cập nhật để nhà đầu tư giảm thời gian tìm hiểu. Thủ tục được rút ngắn nhưng các tiêu chuẩn về công nghệ, môi trường và hiệu quả sử dụng nguồn lực vẫn phải được bảo đảm.

Năng lực thực thi của chính quyền cũng là một phần trong khả năng hấp thụ FDI. Dự án công nghệ cao thường liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường, năng lượng, xuất nhập khẩu và lao động. Nếu thiếu cơ chế phối hợp hoặc cán bộ không nắm rõ yêu cầu kỹ thuật, thời gian xử lý vẫn có thể kéo dài dù địa phương đã ban hành quy trình ưu tiên.

Để Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo chuyển biến thực chất, ba yếu tố phải được triển khai đồng thời: lựa chọn dự án FDI theo chất lượng, nâng năng lực doanh nghiệp Việt Nam và cải thiện hiệu quả thực thi của chính quyền. Khi đó, thành công của thu hút FDI sẽ không chỉ được thể hiện qua lượng vốn đăng ký mà còn qua công nghệ được tiếp nhận, số doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành, việc làm kỹ thuật cao được tạo ra và phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế.

Bài, ảnh: Hoàng Tuyết - Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc